Trong Công văn 250 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến nhiều vướng mắc trong công tác xét xử, TAND Tối cao đã hướng dẫn cụ thể cách xác định người bị kiện trong các vụ án hành chính liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), đồng thời làm rõ đối tượng khởi kiện trong vụ án yêu cầu hủy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN).
Ai sẽ bị kiện?
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc xác định người bị kiện trong các vụ án hành chính liên quan đất đai.
Cụ thể, vướng mắc đặt ra là khi giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về việc cấp GCNQSDĐ, xác nhận thay đổi vào GCNQSDĐ đã cấp đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với QSDĐ ở tại Việt Nam của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, thì xác định người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hay Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh?
Người dân cần lưu ý mốc thời gian 1-8-2024 để xác định người bị kiện trong vụ án hành chính... Ảnh minh họa: HUỲNH THƠ
Theo TAND Tối cao, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2024 quy định, chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai hoặc tổ chức đăng ký đất đai thực hiện cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là cá nhân, cộng đồng dân cư, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
Tổ chức đăng ký đất đai, chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai được sử dụng con dấu của mình để thực hiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi vào GCN đã cấp.
Ngoài ra, điểm b khoản 3 Điều 13 Nghị định số 102/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (có hiệu lực từ ngày 1-8-2024) cũng có quy định, Văn phòng đăng ký đất đai và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản, hoạt động theo quy định đối với đơn vị sự nghiệp công lập; hạch toán theo quyết định của UBND cấp tỉnh.
Từ các quy định trên và căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, người bị kiện trong vụ án hành chính được xác định như sau:
Đối với các khiếu kiện quyết định hành chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được ban hành từ ngày 1-8-2024 thì xác định người bị kiện trong vụ án hành chính là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai.
Ngược lại, đối với các khiếu kiện quyết định hành chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được ban hành trước ngày 1-8-2024 thì xác định người bị kiện trong vụ án hành chính là Văn phòng đăng ký đất đai.
Có được kiện hủy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp?
Công văn cũng giải đáp vướng mắc liên quan việc yêu cầu hủy GCNĐKDN thì xác định đối tượng khởi kiện như thế nào?
Theo TAND Tối cao, căn cứ khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), GCNĐKDN là văn bản ghi nhận thông tin đăng ký doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp.
Trường hợp nội dung GCNĐKDN không chính xác so với hồ sơ đăng ký, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thực hiện hiệu đính theo quy định tại khoản 1 Điều 77 Nghị định 168/2025 về đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp GCNĐKDN được cấp không đúng quy định pháp luật, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp và Điều 69 Nghị định 68/2025.
Căn cứ các quy định nêu trên, GCNĐKDN không phải là quyết định hành chính và không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Khi phát hiện nội dung GCNĐKDN không chính xác hoặc được cấp không đúng quy định, doanh nghiệp có quyền đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện hiệu đính, cấp đổi, thu hồi theo thẩm quyền hoặc khởi kiện đối với hành vi hành chính của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Vì vậy, trường hợp người khởi kiện yêu cầu hủy GCNĐKDN, Tòa án cần xác định đúng đối tượng khởi kiện của vụ án là khiếu kiện hành vi hành chính trong việc cấp GCNĐKDN.
Không được ghi buộc UBND hủy quyết định hành chính
Một nội dung khác cũng được TAND Tối cao làm rõ là việc thi hành bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật, có nội dung tuyên hủy quyết định hành chính của UBND. Tại Quyết định buộc thi hành án hành chính, Tòa án buộc UBND hủy quyết định hành chính trên là đúng hay sai?
Theo TAND Tối cao, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 311 Luật Tố tụng hành chính quy định trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán Nhà nước thì quyết định hoặc phần quyết định bị hủy không còn hiệu lực...
Như vậy, bản án hành chính tuyên hủy quyết định hành chính thì quyết định hành chính không còn hiệu lực kể từ ngày bản án hành chính có hiệu lực pháp luật. Trong quyết định buộc thi hành án hành chính, Tòa án không được ghi buộc UBND hủy quyết định hành chính đã bị Tòa án tuyên hủy.
HUỲNH THƠ