Kiến nghị thẩm định lại giải Nhất khoa học kỹ thuật của học sinh Trường chuyên Chu Văn An, Hà Nội

Kiến nghị thẩm định lại giải Nhất khoa học kỹ thuật của học sinh Trường chuyên Chu Văn An, Hà Nội
3 giờ trướcBài gốc
Poster Dự án đoạt giải Nhất Cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia lĩnh vực Y sinh của học sinh Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An, Hà Nội.
Dự án đoạt giải Nhất Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia lĩnh vực Y sinh của học sinh Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An, Hà Nội, có tên: "Nghiên cứu phát hiện một số chỉ thị sinh học ứng dụng trong phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan sử dụng công nghệ proteomic".
Điều dư luận đặt câu hỏi: Đây có thực sự là một công trình nghiên cứu độc lập của học sinh, hay là một lát cắt từ một hướng nghiên cứu đã được triển khai bởi nhóm chuyên môn người lớn?
Nhìn vào poster của dự án, có thể thấy đây là một nghiên cứu về biomarker phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan trên huyết tương, dùng cách tiếp cận proteomics với quy trình xử lý mẫu, phân tích khối phổ và tin sinh.
Poster thể hiện mô típ quen thuộc của một nghiên cứu discovery: PCA, volcano plot, heatmap, mạng lưới protein, KEGG, số protein tăng giảm giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Nhưng đúng ở điểm này, xã hội càng có quyền đặt câu hỏi: nguồn mẫu ở đâu, ai chạy hệ proteomics, ai xử lý dữ liệu thô, ai làm phân tích tin sinh, và học sinh trực tiếp làm đến đâu?
Điều đặc biệt đáng lưu ý là trong cùng giai đoạn, nhóm của TS. BS Hồ Hữu Thọ đã có một chuỗi công bố rất gần về biomarker huyết tương cho chẩn đoán/phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan, đều triển khai trên bệnh nhân HCC, bệnh gan mạn và người khỏe mạnh, từ hệ nghiên cứu tại 103 Military Hospital / Vietnam Military Medical University.
Đây không phải suy đoán chung chung, mà có thể kiểm tra công khai ngay tại: Scientific Reports 2025: Accurate quantification of cell-free Ceruloplasmin mRNA as a biomarker for early detection of hepatocellular carcinoma. [https://www.nature.com/articles/s41598-025-99302-3]. Nhóm tác giả gồm Minh Ngo, Trang Dao, Trang Hoang, Ung Nguyen, Jakob Stenman, Huy Duong và Tho Ho; tuyển 51 HCC, 21 bệnh gan mạn, 31 người khỏe mạnh tại 103 Military Hospital.
Diagnostics 2025: Sensitive Detection of Plasma Fibrinogen Chain A mRNA in Hepatocellular Carcinoma Using Semi-Nested RT-PCR. [https://www.mdpi.com/2075-4418/15/11/1364]. Nhóm tác giả đến từ 103 Military Hospital / Vietnam Military Medical University; tuyển 80 HCC và 74 chứng.
Tạp chí Y học Việt Nam 2025: Phối hợp Ceruloplasmin mRNA và Fibrinogen Chain A mRNA huyết tương trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan [https://tapchiyhocvietnam.vn/index.../vmj/article/view/13973]. Bài này khảo sát 131 HCC, 70 bệnh gan mạn, 41 người khỏe mạnh tại Bệnh viện Quân y 103.
Như vậy, xung quanh chủ đề biomarker huyết tương cho phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan, đã có sẵn một hệ nghiên cứu người lớn rất rõ ràng, với dữ liệu bệnh nhân thật, hạ tầng kỹ thuật thật, nhóm tác giả thật và công bố thật.
Chính vì vậy, khi một dự án học sinh Chu Văn An mang tên "Nghiên cứu phát hiện một số chỉ thị sinh học ứng dụng trong phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan sử dụng công nghệ proteomic" được trao giải Nhất lĩnh vực Y sinh, dư luận hoàn toàn có quyền yêu cầu làm rõ: dự án này độc lập đến đâu so với hệ nghiên cứu của nhóm TS Hồ Hữu Thọ?
Cũng theo Liêm chính khoa học, không chỉ nghi vấn về tính minh mạch, dự án này lộ rất nhiều điểm yếu, có xứng đáng được giải nhất lĩnh vực Y sinh của cuộc thi khoa học kĩ thuật quốc gia danh giá không? Nếu nhóm học sinh này được quyền vào thẳng các trường đại học khối ngành khoa học sức khỏe thì cần nhìn nhận lại chất lượng của dự án. Cụ thể:
Điểm yếu lớn nhất là cỡ mẫu quá nhỏ. Từ poster có thể thấy nhóm chứng và nhóm bệnh chỉ ở mức khoảng 8-9 mẫu mỗi bên. Với một nghiên cứu omics (lĩnh vực nghiên cứu sinh học quy mô lớn), quy mô như vậy chỉ phù hợp để sàng lọc giả thuyết, rất dễ sinh nhiễu và rất dễ cho ra "marker đẹp" nhưng không lặp lại được ở quần thể khác. Nếu chưa có cohort (nhóm đối tượng nghiên cứu) xác nhận độc lập, chưa có validation (kiểm chứng/xác nhận lại kết quả) kỹ thuật bằng ELISA/PRM/SRM/Western, thì chưa đủ cơ sở để đẩy kết luận lên mức "ứng dụng".
Điểm yếu thứ hai là poster không cho thấy hiệu năng chẩn đoán cốt lõi. Không thấy AUC, không thấy độ nhạy, độ đặc hiệu, điểm cắt, không thấy mô hình phân loại, cũng không thấy phân tích riêng cho nhóm HCC giai đoạn sớm. Một nghiên cứu muốn nói đến "phát hiện sớm" mà không chứng minh được giá trị chẩn đoán bằng các chỉ số tối thiểu thì thực chất mới dừng ở mức thăm dò phân tử, chưa phải nghiên cứu ứng dụng.
Điểm yếu thứ ba là poster không cho thấy các kiểm soát thống kê bắt buộc của dữ liệu omics: không thấy FDR/q-value, không thấy hiệu chỉnh đa kiểm định, không thấy kiểm soát batch effect, không thấy tiêu chí định danh protein, không thấy đánh giá nhiễu tiền phân tích. Với proteomics huyết tương, đây là những điều kiện gần như bắt buộc nếu muốn kết luận nghiêm túc về biomarker.
Điểm yếu thứ tư là cụm từ "phát hiện sớm" được dùng khá mạnh, nhưng poster lại không làm rõ "sớm" là giai đoạn nào. Không thấy tỷ lệ very early/early stage, không thấy phân tích riêng bệnh nhân u nhỏ hay HCC giai đoạn đầu. Nếu không chứng minh biomarker hoạt động tốt ở đúng nhóm bệnh nhân giai đoạn sớm, thì việc dùng cụm từ này là vượt quá bằng chứng.
Liêm chính khoa học nói rằng, những câu hỏi xã hội cần được trả lời công khai là:
1. Nguồn bệnh phẩm của dự án học sinh lấy từ đâu? Có cùng nguồn bệnh nhân HCC/bệnh gan mạn/người khỏe mạnh như các nghiên cứu của nhóm TS Hồ Hữu Thọ hay không?
2. Có hay không việc dùng chung ngân hàng mẫu, hạ tầng xét nghiệm hoặc dữ liệu nền của nhóm nghiên cứu người lớn?
3. Ai thực hiện các công đoạn lõi của proteomics? Ai xử lý huyết tương, ai chạy khối phổ, ai làm phân tích dữ liệu thô và tin sinh?
4. Học sinh của Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An thực sự làm phần nào? Ý tưởng?, Thao tác phòng thí nghiệm? Xử lý số liệu? Hay chủ yếu tham gia trình bày kết quả?
5. Có hay không việc tách một nhánh dữ liệu hoặc một phần phân tích từ chương trình nghiên cứu của người lớn để đóng gói thành dự án học sinh?
6. Hội đồng đạo đức của bệnh viện đã thông qua cho triển kha nghiên cứu này không? Bệnh nhân đã được tư vấn làm rõ và đồng ý cho lấy mẫu nghiên cứu không? Một nghiên cứu đạt giải nhất lĩnh vực Y sinh không thể thiếu đạo đức trong nghiên cứu được.
Ở đây, vấn đề không chỉ là "giống hay không giống" một danh sách bài báo cụ thể. Vấn đề nằm ở chỗ dự án học sinh xuất hiện đúng trong một hệ sinh thái nghiên cứu rất gần về bệnh cảnh, loại mẫu, mục tiêu biomarker và thời điểm công bố. Nếu không công khai rõ nguồn gốc dữ liệu, nguồn mẫu và vai trò từng người, thì nghi vấn rằng đây không phải một nghiên cứu học sinh độc lập theo nghĩa thông thường là hoàn toàn có cơ sở để được thẩm định.
Vì vậy, Liêm chính khoa học kiến nghị Bộ giáo dục và Đào tạo, Ban Giám khảo và các cơ quan chuyên môn:
1. Công khai đầy đủ hồ sơ dự thi của dự án "Nghiên cứu phát hiện một số chỉ thị sinh học ứng dụng trong phát hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan sử dụng công nghệ proteomic" của học sinh Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An, Hà Nội theo yêu cầu Quy chế cuộc thi.
2. Công khai nguồn mẫu, phê duyệt đạo đức, nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc và quy trình phân tích.
3. Công khai vai trò thực tế của học sinh, giáo viên hướng dẫn và các nhà khoa học/người hỗ trợ bên ngoài.
4. Mời hội đồng độc lập thẩm định xem đây có phải là công trình học sinh độc lập hay là một nhánh được tách ra từ chương trình nghiên cứu của người lớn.
Trong khoa học, điều bảo vệ danh dự tốt nhất không phải là lời giải thích, mà là dữ liệu gốc và minh bạch tuyệt đối.
Minh Anh
Nguồn Công dân & Khuyến học : https://congdankhuyenhoc.vn/kien-nghi-tham-dinh-lai-giai-nhat-khoa-hoc-ky-thuat-cua-hoc-sinh-truong-chuyen-chu-van-an-ha-noi-179260331171459992.htm