Những cái chết ở độ tuổi hoa đang hé nở, đầy ắp ước mơ và hoài bão. Các em bất chợt ra đi để lại nỗi tiếc thương của cha mẹ ông bà và các thầy cô giáo cùng bạn bè đồng trang lứa. Thật tang thương. Ở Phú Thọ, một thôn có 4 em tử nạn, cứ vài trăm mét có một đám tang, trải dài buồn bã trong cùng một ngày. Ở Quảng Ngãi 3 em chết, thì có 2 em trong cùng một gia đình.
Cần coi dạy bơi cho học sinh là yêu cầu bắt buộc
Tỷ lệ đuối nước ở Việt Nam cao gấp 10 lần so với các nước phát triển. Sự thật đắng lòng kể trên, chỉ là nốt chấm trầm nhỏ, trong bức tranh đau buồn đuối nước hàng năm của nước ta. Theo số liệu của Cục trẻ em (Bộ LĐTB& XH cũ), mỗi năm ở Việt Nam có gần 2.000 trẻ em tử vong vì đuối nước. Năm 2010 số trẻ tử vong là 3.300 trẻ. Năm 2016, giảm xuống 2.350 trẻ và năm 2023 là 1.800 em. Như vậy, mỗi năm đã kéo giảm 3% -5% số vụ trẻ em tử vong, tương ứng khoảng 100 sinh mạng trẻ được cứu sống do đuối nước. Tuy vậy, trẻ em trẻ đuối nước ở Việt Nam, xu hướng luôn giảm nhưng chậm và luôn có nguy cơ trực chờ tăng trở lại, do nước ta thuộc vùng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, bão lũ bất thường. Việt Nam hiện đang đứng thứ 7 ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương về trẻ tử vong do đuối nước.
Cấp cứu trẻ đuối nước (ảnh: BV Nhi Trung ương)
Nguyên nhân đuối nước được ghi nhận và chỉ ra là do sự hiếu động, tò mò, thích vui chơi dưới nước. Tâm lý chủ quan, muốn thách thức bạn bè, thể hiện cái tôi, dám mạo hiểm, dũng cảm để cứu bạn bè khi không may bị đuối nước. Đây là những đặc điểm điển hình của trẻ tuổi teen, dạy thì hay bồng bột mới lớn. Sau thời gian dài phải chịu áp lực học tập vất vả, đến khi có thời gian rảnh rỗi, nhất là những ngày được nghỉ học, các em thường có cơ hội xả stress, kiểu “bung lụa”, hết mình với bạn bè cùng trường, cùng lớp. Hầu hết do các nạn nhân, thường thiếu kỹ năng về an toàn dưới nước. Có thể hiểu, đây thực sự là nghịch lý, dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều trẻ em ở vùng sông nước hay ngay cả ở những thành phố, đô thị lớn.
Cùng đó, công tác tuyên truyền, dạy bơi hay các kỹ năng phòng chống đuối nước ở các nhà trường có làm nhưng đôi khi chỉ là hình thức, dưới dạng phong trào, và làm không đồng đều, rộng khắp trong toàn quốc. Sự việc mất trẻ xảy ra với vội kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”
Cần coi dạy bơi cho học sinh là yêu cầu bắt buộc để cứu sinh mạng trẻ. Các trường học phải cam kết với xã và Sở GDĐT việc dạy bơi cho 100% học sinh được học và biết bơi cùng năng sống an toàn, trước khi các em ra trường bậc học. Đạt chuẩn an toàn: “tự bơi được 25 mét và tự nổi trong 90 giây”.
Thực tế, nhiều trường bằng nguồn lực xã hội hóa đã tạo ra các bề bơi lộ thiên, làm bằng vải nhựa, và hiện diện ngay trong khuôn viên trường. Đồng Tháp, Nghệ An có nghị quyết của HĐND tỉnh về lắp đặt bể bơi ở các trường học và các xã khó khăn, miền núi. Thành phố Cần Thơ là một trong những địa phương, hàng thế kỷ nay, đã “xóa mù” bơi cho học sinh TH. Các trường cần hạn chế học thêm kiến thức văn hóa mà chuyển sang học kỹ năng sống, trong đó có phổ cập bơi cho học sinh phổ thông. Các trường phải “buộc” các gia đình còn lơ là, không quan tâm tới kỹ năng sống cho con em mình vào những chế tài nghiêm khác và cụ thể. Trước khi nghỉ hè, lễ, tết dài ngày cần có biên bản bàn giao an toàn học đường giữa nhà trường và các gia đình học sinh.
Trách nhiệm người đứng đầu
Những năm qua, Chính phủ luôn quan tâm tới công tác phòng, chống đuối nước cho trẻ em, và đã ban hành Chương trình quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em đến năm 2025 và 2030, trong đó có nhấn mạnh tới việc phải giảm thiểu tối đa các vụ đuối nước cho trẻ em. Chỉ tiêu tới năm 2030 giảm 20% số ca tử vong so với 2021, do đuối nước ở trẻ em. Việt Nam đặt mục tiêu tới 2030, khoảng 50% trẻ 6-15 tuổi biết bơi; 60% trẻ được dạy kỹ năng an toàn trong môi trường nước.
Chúng ta không thể lấy lý do về kinh phí, về thiếu cơ sở vật chất mà lảng tránh hay làm chiếu lệ, không cứu sinh mạng những đứa trẻ. Chỉ cần 700.000 đ cho một học sinh đạt chuẩn an toàn bơi, đồng nghĩa với sinh mạng một đứa trẻ có thể không bị đe dọa. Lãnh đạo các địa phương cần xem xét việc phòng chống, đuối nước trẻ em là một ưu tiên trên hết, trước hết khi phân bổ ngân sách cứu sinh mạng trẻ em. Phẩm chất ở người đứng đầu chính quyển địa phương cần quyết liệt, quyết đoán chứ không phải “cân nhắc” hay “nhấc lên, đặt xuống” bên cạnh sự lựa chọn các mục tiêu xã hội khác.
Thật đáng buồn và đáng trách hơn là vẫn còn có địa phương không phân bổ ngân sách cho phòng, chống đuối nước. Việc phòng chống đuối nước phải thực hiện liên tục và suốt đời và không khác nhiệm vụ của Phổ cập giáo dục hay Kiến tạo trường học hạnh là đi trên “con đường” bảo vệ trẻ, bảo vệ tương lai của dân tộc và giống nòi.
Giải pháp nhằm kéo giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ: Cả xã hội cần xác định những việc gì cần làm ngay, trước mắt khẩn thiết và lâu dài, mang tính chiến lược để không lặp lại những vụ việc đau xót, tang thương tương tự, đề phòng, chống hiệu quả đuối nước cho trẻ em.
Đặng Tự Ân