Những hiện vật còn lại trên “kinh đô kháng chiến” Vạn Lại - Yên Trường âm thầm “kể chuyện” lịch sử.
Sau gần 100 năm dựng nghiệp, đầu thế kỷ XVI, nhà Lê (Lê sơ) bắt đầu suy yếu, quyền lực từng bước rơi vào tay quan đại thần Mạc Đăng Dung. Và năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lập nên vương triều Mạc, tiếp tục lấy Thăng Long làm kinh đô.
Công cuộc trung hưng nhà Lê chính thức bắt đầu và được đặt nền móng với lực lượng của Nguyễn Kim - một quan đại thần nhà Lê. Sau thời gian gây dựng lực lượng trên đất Ai Lao, Nguyễn Kim đưa quân về Thanh Hóa. Ông và những người cùng chí hướng tôn lập con trai vua Lê Chiêu tông là Lê Duy Ninh lên ngôi vua- tức Lê Trang tông.
Với danh nghĩa “phù Lê, diệt Mạc”, công cuộc trung hưng nhà Lê do Nguyễn Kim khởi xướng và dẫn dắt nhanh chóng tạo được tiếng vang, hào kiệt, hiền tài khắp nơi tìm về mỗi ngày thêm đông. Công cuộc trung hưng buổi ban đầu gặp muôn vàn khó khăn, chưa có căn cứ cố định.
Công cuộc trung hưng đang trên đà phát triển cả thế và lực thì Nguyễn Kim bị gian thần ám hại, sự nghiệp trung hưng được tiếp nối bởi người con rể Trịnh Kiểm. Trước đấy, Trịnh Kiểm - người làng Sóc Sơn (nay thuộc xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa) được biết đến là dũng tướng toàn tài, không chỉ giỏi võ nghệ mà còn thạo binh pháp, ông theo Nguyễn Kim bắt đầu dấy nghiệp trung hưng từ những ngày đầu.
Vốn là người mưu lược, Thái sư Trịnh Kiểm hiểu rằng, công cuộc trung hưng không phải là câu chuyện sớm chiều. Với góc nhìn: “Lập quốc tất phải căn cứ vào nơi hiểm trở, sách Vạn Lại núi đứng sừng sững, nước uốn quanh, thực đáng gọi là nơi hình thế đẹp. Đó là do trời đất xếp đặt để làm chỗ dấy nghiệp đế vương. Trịnh Kiểm bèn sai đào hào, đắp lũy, xây dựng hành điện, mời nhà vua đến đóng tại đó” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).
Sau thời gian ở đất Vạn Lại, hành điện của vua Lê được chuyển đến An Trường (Yên Trường) cách Vạn Lại không xa. Bấy giờ, Yên Trường được cho là có thế đất “rộng rãi sáng sủa, phía tả có núi non, phía hữu có sông cái". Và thực tế, Yên Trường là dải đất bán sơn địa nằm bên sông Chu, là điều kiện thuận lợi cho thủy quân hoạt động. Từ đây thủy quân Lê - Trịnh có thể theo sông Chu ra sông Mã.
Thêm một kiến giải cho việc chọn Vạn Lại- Yên Trường làm chỗ đứng chân còn là bởi đây là đất của nhiều danh tướng, công thần thời Lê sơ. Họ đã dốc sức trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và được vua Lê Thái tổ ban cho đất xây dựng cơ nghiệp. Khi công cuộc trung hưng diễn ra, con cháu các bậc công thần lại nhường đất cho vua xây dựng hành điện, thành lũy.
Vùng đất Vạn Lại xưa nhìn từ trên cao.
Cũng bởi khoảng cách gần nhau, trong suốt thời gian diễn ra sự nghiệp trung hưng, vua Lê- chúa Trịnh nhiều lần dời từ Vạn Lại về Yên Trường và ngược lại.
Trong gần nửa thế kỷ, Vạn Lại - Yên Trường là “kinh đô kháng chiến” vững chãi, chốn tìm về của hào kiệt bốn phương. Không xa hoa lộng lẫy như Thăng Long, chẳng bề thế như Tây Đô (Thành Nhà Hồ), song trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, dựa vào thế đất hiểm trở, Vạn Lại- Yên Trường vẫn được xây dựng với các lớp lang thành lũy đủ sức chống đỡ lại những lần tiến quân đánh phá ác liệt của đại quân nhà Mạc.
Không chỉ là nơi đứng chân chiến đấu, từ Vạn Lại - Yên Trường vua Lê đã cho tổ chức nhiều khoa thi tuyển chọn người tài dốc sức cho sự nghiệp trung hưng; cho lập đàn Nam Giao, thực hiện các nghi lễ triều chính... Với đầy đủ vai trò và ý nghĩa, Vạn Lại - Yên Trường là “kinh đô kháng chiến - kinh đô trung hưng” của nhà Lê trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Theo nhà nghiên cứu lịch sử Hoàng Hùng: “Khi sự nghiệp trung hưng giành thắng lợi, vua Lê tiến ra Thăng Long, thì Vạn Lại - Yên Trường vẫn được giữ gìn, cắt đặt người trông coi cẩn trọng. Bấy giờ, nơi đây trở thành nghi kinh, hậu cứ cất giữ kho tàng vũ khí của nhà Lê và cả sẵn sàng có thể là chốn lui về khi xảy ra binh biến, bất trắc. Và trong suốt gần 2 thế kỷ, cho đến khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc, thì vai trò của “kinh đô” Vạn Lại - Yên Trường luôn được vua Lê - chúa Trịnh chú trọng. Hơn 400 năm trôi qua, “kinh đô” Vạn Lại - Yên Trường trên đất xứ Thanh dù đã nhiều thay đổi song giá trị, ý nghĩa của di tích trong dòng chảy lịch sử dân tộc là bất biến”.
Bài và ảnh: Khánh Lộc