Lỗ hổng từ gia đình
“Thương cho roi cho vọt/Ghét cho ngọt cho bùi”, câu nói truyền miệng của cha ông ta thể hiện phương pháp giáo dục truyền thống. Tuy nhiên, xã hội đã phát triển, hoàn cảnh và cách thức dạy trẻ có những thay đổi căn bản. Câu nói này, về nội hàm không phải đã lỗi thời. Bản chất của việc dạy trẻ thì tình thương luôn đi cùng với kỷ luật. Yêu thương hay kỷ luật thái quá cũng đều lợi bất cập hại. Sự cân bằng giữa tình thương và kỷ luật sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện.
Dù vậy, không nên cho rằng đòn roi là kỷ luật. Kỷ luật có nhiều cách khác, không phải đòn roi!
Nhiều người hiểu sai ý này và áp dụng đòn roi với trẻ. Ở ngay chỗ này, một lỗ hổng lớn đã xuất hiện, diễn ra hằng ngày nhưng rất khó nhận diện, và đôi khi pháp luật khó với tới để điều chỉnh. Đó là quyền được dạy con (của phụ huynh và nhà trường), lại diễn ra trong môi trường được coi là an toàn, và người lớn có quyền (gần như đương nhiên). Điều khó phân biệt là nghiêm khắc hay hà khắc, được quyền hay lạm quyền, rất mong manh (đâu là ranh giới được phép và không được phép) giữa người dạy cũng như khả năng chịu đựng của trẻ.
Nguy hiểm hơn, có những người đánh con, thậm chí hành hạ con mình, và cho rằng, họ có quyền được làm như thế!
Khi mọi việc thái quá sẽ dẫn đến hậu quả.
Quan điểm mạnh tay dùng roi vọt để dạy dỗ trẻ vô hình trung tạo thành lỗ hổng lớn khiến hành vi xâm phạm trẻ em tiếp tục tồn tại dưới vỏ bọc của tình yêu thương và giáo dục (Ảnh: Báo Pháp luật Việt Nam)
TS BS Vũ Thị Kim Hoa- Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng (tại giao lưu trực tuyến “Làm gì để chữa lành vết thương cho trẻ sau bạo hành?” do Tạp chí Trẻ em Việt Nam tổ chức): “Những hành vi xâm phạm thân thể và xúc phạm tinh thần đôi khi vẫn được bình thường hóa dưới danh nghĩa giáo dục con cái, làm cho bạo lực trở nên khó bị phát hiện hơn”.
Nhìn nhận và giải quyết vấn đề này, TS.BS Vũ Thị Kim Hoa đưa ra kiến giải sâu sắc: Cần phải có các lớp học làm cha mẹ. “… Không nên chỉ được học khi một người đã có con, mà cần được chuẩn bị từ sớm như một kỹ năng sống quan trọng. Việc trang bị kiến thức về chăm sóc, nuôi dạy trẻ, quản lý cảm xúc hay áp dụng các phương pháp kỷ luật tích cực cần bắt đầu từ giai đoạn tiền hôn nhân, tiếp tục trong thời kỳ mang thai và được duy trì. Để làm được điều đó, cần đẩy mạnh nhiều hình thức hỗ trợ và đào tạo dành cho cha mẹ trẻ như các lớp tiền hôn nhân, lớp học kỹ năng làm cha mẹ, hoạt động tư vấn tại trường học, cơ sở y tế; đồng thời tăng cường truyền thông trên mạng xã hội, truyền hình và các chương trình hướng dẫn nuôi dạy con tích cực tại cộng đồng”.
Bà Hoa cũng khẳng định: Thời gian qua, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cũng đã triển khai nhiều hoạt động đồng hành cùng cha mẹ. Thông qua các lớp tập huấn tại cộng đồng, trường học, các nhóm cha mẹ và mô hình hỗ trợ trực tiếp, nhiều phụ huynh dần thay đổi nhận thức và cách nuôi dạy con theo hướng tích cực, tôn trọng và thấu hiểu trẻ hơn.
“Gia đình cần được nhìn nhận là “lá chắn” đầu tiên và quan trọng nhất trong việc bảo vệ trẻ khỏi bạo lực, xâm hại. Vì vậy, cha mẹ không chỉ cần tình yêu thương mà còn cần được hỗ trợ kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ tích cực để đồng hành cùng con bằng sự thấu hiểu thay vì bạo lực”, bà Hoa nhấn mạnh.
Lỗ hổng từ “tổn thương vô hình”
Thực tế cho thấy, xã hội vẫn có xu hướng nhận diện bạo hành trẻ em thông qua những tổn thương hữu hình như thương tích, đòn roi (dấu hiệu dễ nhận thấy và đã xảy ra thành hậu quả). Trong khi đó, những tổn thương tâm lý, bạo lực tinh thần, xâm phạm đời tư hoặc áp lực kéo dài lại khó được phát hiện (điều mang lại hậu quả nặng nề và dai dẳng).
Theo chuyên gia tâm lý, cần nhận diện sớm những tổn thương tâm lý, để phụ huynh và thầy cô giáo cần xét lại việc ứng xử với trẻ. Những dấu hiệu người lớn cần nhận ra khi trẻ bị tổn thương như: Đột ngột thu mình, ngại giao tiếp; Lo âu, sợ hãi, bất an kéo dài; Thay đổi hành vi bất thường, gây sốc, lạ; Kết quả học tập giảm sút đột ngột; Có dấu hiệu tự làm đau bản thân...
Đối với trẻ, cần nhận biết một số hành vi có thể là dấu hiệu xâm hại: Bị đánh đập, đe dọa; Thường xuyên bị xúc phạm, miệt thị; Bị ép buộc làm điều không mong muốn; Bị công khai thông tin cá nhân; Bị bắt nạt trên môi trường mạng...
Bàn về vấn đề này, Hoa hậu Hà Kiều Anh (tại giao lưu trực tuyến “Làm gì để chữa lành vết thương cho trẻ sau bạo hành?” do Tạp chí Trẻ em Việt Nam tổ chức) cho rằng: “Xin đừng đợi đến khi con im lặng, thu mình lại hoặc trở nên xa cách mới nhận ra rằng con đã tổn thương từ rất lâu rồi. Nhiều “vết thương suốt đời” không bắt đầu từ những biến cố lớn, mà từ những điều rất nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày: một lần không được lắng nghe, một cảm xúc bị xem nhẹ, một câu nói vô tình làm con thấy mình không đủ tốt, hay một lần con cần được ôm nhưng lại bị bỏ qua…”.
Tổn thương do bạo lực tinh thần sẽ ám ảnh dai dẳng đối với hành trình lớn lên của con trẻ (Ảnh: Báo Pháp luật Việt Nam)
Trao đổi với phóng viên báo Pháp luật Việt Nam, Luật sư Hà Trọng Đại- Giám đốc Công ty Luật TNHH Hà Trọng Đại và Cộng sự cho rằng: “Chúng ta muốn bảo vệ trẻ em hiệu quả thì phải chuyển từ tư duy xử lý khi hậu quả đã xảy ra sang tư duy phát hiện nguy cơ và can thiệp sớm”.
Việt Nam hiện đã xây dựng hệ thống quy định đầy đủ nhằm xử lý các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em thông qua chế tài hình sự, hành chính và các quy định chuyên ngành. Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay không chỉ nằm ở chế tài xử lý mà còn ở việc nhận diện, xác định và chứng minh tổn thương.
Khác với bạo lực thể chất có thể nhìn thấy bằng thương tích, tổn thương tinh thần thường không để lại dấu vết hữu hình. Nhiều trường hợp chỉ bộc lộ qua sự thay đổi hành vi, rối loạn tâm lý, lo âu kéo dài, thu mình hoặc tự làm hại bản thân.
Theo các chuyên gia, việc nhận diện tổn thương vô hình cần được thực hiện theo cơ chế phối hợp liên ngành thay vì chỉ dựa vào một cơ quan đơn lẻ.
Trong đó, gia đình và nhà trường cần trở thành tuyến phát hiện sớm.
Ngành y tế, chuyên gia tâm lý, công tác xã hội giữ vai trò đánh giá chuyên môn, xác định mức độ tổn thương.
Hệ thống bảo vệ trẻ em tại địa phương thực hiện tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ và kết nối hỗ trợ.
Khi có căn cứ vi phạm, cơ quan công an, tư pháp và các cơ quan chức năng thực hiện xác minh và xử lý.
TS.BS Vũ Thị Kim Hoa cho rằng, “cần xây dựng và chuẩn hóa các bộ tiêu chí nhận diện dấu hiệu bạo lực theo hướng đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng để lồng ghép trực tiếp vào chương trình đào tạo thường xuyên của ngành giáo dục và y tế. Song song đó, chúng ta cần thiết lập một cơ chế phối hợp báo cáo rõ ràng, thông suốt giữa nhà trường, cơ sở y tế, chính quyền và hệ thống bảo vệ trẻ em chuyên trách. Chỉ khi các bên có sự liên kết chặt chẽ và chia sẻ thông tin kịp thời, chúng ta mới có thể tạo ra một mạng lưới bảo vệ vững chắc, giúp phát hiện sớm và xử lý kịp thời…”.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã chuyển từ cách tiếp cận “có thương tích mới xử lý” sang đánh giá tổng hợp tác động đối với sự phát triển của trẻ.
Bởi tổn thương vô hình không thể được nhìn thấy bằng mắt thường. Vì vậy, việc bảo vệ trẻ em cũng không thể chỉ dựa vào thương tích mà cần cơ chế nhận diện khoa học và phối hợp liên ngành.
Lỗ hổng từ “Sự thờ ơ của cộng đồng”
Tâm lý cho rằng, bảo vệ trẻ em là “chuyện riêng của cơ quan pháp luật” đã lộ ra một khoảng trống rất lớn.
Luật Trẻ em năm 2016 xác định việc bảo vệ trẻ em phải bảo đảm sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Điều đó đồng nghĩa, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi phát hiện trẻ có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực hoặc bị tước đoạt quyền lợi đều có trách nhiệm tham gia bảo vệ.
Một giáo viên nhận thấy học sinh đột ngột thu mình. Một hàng xóm thường xuyên nghe tiếng chửi mắng, bạo lực. Một người dùng mạng xã hội phát hiện hình ảnh riêng tư của trẻ bị phát tán. Họ có thể là những người đầu tiên giúp trẻ được bảo vệ.
Trao đổi về vấn đề này Luật sư Hà Trọng Đại khẳng định: “Trong xã hội, tâm lý đóng cửa bảo nhau vẫn còn rất nặng. Nhiều người chứng kiến bạo hành nhưng ngại can thiệp vì coi đó là chuyện gia đình, chuyện dạy con…”.
Các chuyên gia cho rằng, xã hội cần chuyển từ tư duy “chứng kiến” sang “hành động”, từ phản ứng khi hậu quả đã xảy ra sang chủ động phát hiện nguy cơ.
Luật sư Hà Trọng Đại phân tích: “Điều quan trọng hơn nữa, cần quy định, thờ ơ trước cảnh trẻ bị bạo hành có thể bị pháp luật xử lý trách nhiệm. Đây là vấn đề then chốt, giúp cộng đồng vào cuộc bảo vệ trẻ em; phải hiểu rằng dù chế tài có nghiêm khắc tới đâu cũng chỉ là phần ngọn, điều quan trọng hơn, thực tế hơn là phải dùng chính hoạt động tư pháp để thay đổi nhận thức xã hội. Phải xây dựng và đảm bảo cho một cơ chế bắt buộc phải báo tin và can thiệp ngay đối với tổ chức, cá nhân có điều kiện biết/phải biết về nguy cơ xâm hại trẻ em có thể xảy ra. Đừng để tình trạng cứ có hậu quả mới đi xử lý hậu quả trong khi bỏ qua mất vai trò trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc giám sát, bảo vệ trẻ ở mọi lúc, mọi nơi”.
Luật sư Hà Trọng Đại - Giám đốc Công ty Luật TNHH Hà Trọng Đại và Cộng sự
TS.BS Vũ Thị Kim Hoa nhìn nhận: “Một yêu cầu quan trọng khác là tiếp tục củng cố hệ thống bảo vệ trẻ em với ba trụ cột gồm: hoàn thiện pháp luật, kiện toàn hệ thống tổ chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, cộng tác viên ở cơ sở và phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ hỗ trợ trẻ em. Việc đầu tư cho hệ thống bảo vệ trẻ em cấp cơ sở cần được quan tâm nhiều hơn, nhất là đối với đội ngũ nhân viên công tác xã hội và cộng tác viên trẻ em - những người trực tiếp phát hiện, hỗ trợ và đồng hành cùng trẻ trong cộng đồng. Bên cạnh đó, cần phát triển các dịch vụ bảo vệ trẻ em theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận theo hướng “một cửa”, giúp trẻ và gia đình có thể tiếp cận đồng thời các hỗ trợ về tâm lý, y tế, pháp lý và công tác xã hội một cách nhanh chóng, toàn diện”.
MỖI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ BẢO VỆ TRẺ EM
-Không im lặng trước dấu hiệu bất thường;
-Lắng nghe trẻ;
-Tôn trọng quyền riêng tư;
-Chủ động phản ánh nguy cơ xâm hại.
Kênh hỗ trợ: Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111
NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BẠO HÀNH TINH THẦN
Nghiên cứu của Đại học Liverpool John Moores (Anh) trên 20.687 người trưởng thành cho thấy, người từng bị bạo hành bằng lời nói trong thời thơ ấu có nguy cơ sức khỏe tinh thần yếu hơn 64%, cao hơn nhóm từng bị bạo hành thể chất (52%).
Xóa quan niệm “đòn roi là kỷ luật”
“Công tác truyền thông cũng cần được đổi mới theo hướng thực chất hơn. Nội dung truyền thông cần tập trung giúp người dân nhận diện sớm các dấu hiệu bạo lực, xâm hại trẻ em; nâng cao kỹ năng làm cha mẹ tích cực; đồng thời xóa quan niệm “đòn roi là kỷ luật”.
TS.BS Vũ Thị Kim Hoa - Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam
(còn nữa)
Dương Trang - Diệu Huyền - Hoàng Tư