Những vó ngựa tung hoành từ Phú Xuân ra Bắc Hà không chỉ góp phần quyết định thắng lợi quân sự, mà còn trở thành biểu tượng của khí phách và truyền thống thượng võ của vùng đất Gia Lai hôm nay - nơi phát tích phong trào nông dân Tây Sơn.
Cuộc Bắc tiến như một mệnh lệnh lịch sử
Cuối năm 1788, 29 vạn quân Thanh tràn vào Thăng Long. Trước vận mệnh dân tộc, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và lập tức phát động cuộc Bắc tiến. Điều khiến hậu thế kinh ngạc không chỉ là chiến thắng vang dội vào mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, mà còn là tốc độ hành quân hiếm thấy trong lịch sử quân sự nước ta.
Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) - biểu tượng nhắc nhớ cuộc hành quân thần tốc mùa xuân Kỷ Dậu 1789. Ảnh: Ngọc Nhuận
Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đã ghi lại khí thế ấy bằng những dòng đầy ấn tượng: quân Tây Sơn “đi nhanh như gió”, xuất hiện như sấm sét giữa trời đông, khiến đối phương không kịp trở tay. Tốc độ trở thành yếu tố quyết định của chiến dịch. Và để tạo nên tốc độ ấy, ngoài tổ chức chỉ huy tài tình, không thể không nhắc đến sức cơ động của kỵ binh.
Tranh vẽ tái hiện những trận đánh vang dội của quân đội Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung. Ảnh: Ngọc Nhuận
Trong cơ cấu quân đội Tây Sơn, kỵ binh giữ vai trò xung kích: hành quân nhanh, đột phá mạnh, truy kích quyết liệt và phối hợp linh hoạt với bộ binh, tượng binh. Công trình Hùng tượng - Lương mã của Đông Nguyễn - Kaovjets Nguyens từng nhấn mạnh: vùng Nam Trung Bộ là nơi “sản sinh nhiều ngựa”, cung cấp lượng lớn ngựa thồ và chiến mã cho quân Tây Sơn. Điều kiện tự nhiên ấy tạo nền tảng vật chất quan trọng cho sức cơ động vượt trội của nghĩa quân.
Sách Đại Nam thực lục (Quốc Sử quán triều Nguyễn) cho biết, riêng trong trận Trấn Ninh năm 1802, quân Nguyễn đã thu được 500 thớt ngựa của Tây Sơn. Chi tiết này phần nào cho thấy quy mô chiến mã không hề nhỏ của lực lượng Tây Sơn, đủ để hình thành những đơn vị kỵ binh đáng kể trong các chiến dịch lớn.
Từ không gian Tây Sơn thượng đạo - hạ đạo, từ miền thượng du nối cao nguyên với đồng bằng, những đoàn kỵ binh ấy đã tạo nên sức mạnh cơ động hiếm có, giúp đại quân thực hiện cuộc hành quân chớp nhoáng vượt quãng đường hàng trăm cây số trong thời gian ngắn.
Không gian Tây Sơn thượng đạo ở phường An Khê (tỉnh Gia Lai) - tuyến kết nối đồng bằng với cao nguyên, góp phần hình thành sức mạnh quân sự phong trào nông dân Tây Sơn. Ảnh: Ngọc Nhuận
Những vó ngựa trong đại thắng mùa xuân
Diễn biến chiến dịch xuân Kỷ Dậu cho thấy sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh chủng. Ở trận Ngọc Hồi, bộ binh mang khiên mộc tiến công chính diện, tượng binh tạo sức ép mạnh mẽ, trong khi kỵ binh sẵn sàng xung kích vào những điểm then chốt. Sự cơ động của kỵ binh giúp phá vỡ đội hình phòng ngự dày đặc của quân Thanh, mở toang cánh cửa tiến công.
Tại Đống Đa, vai trò truy kích của kỵ binh càng thể hiện rõ. Khi đội hình địch tan vỡ, những đơn vị kỵ binh nhanh chóng khóa chặt các ngả rút lui, truy đuổi quyết liệt. Hoàng Lê nhất thống chí mô tả cảnh quân Thanh “tan vỡ, giẫm đạp lên nhau mà chạy”, phản ánh không chỉ sự sụp đổ tinh thần mà còn cho thấy hiệu quả của nghệ thuật truy kích - sở trường tiêu biểu của lực lượng kỵ binh.
Tranh vẽ tái hiện những trận đánh vang dội của quân đội Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung. Ảnh: Ngọc Nhuận
Nhìn ở góc độ quân sự, kỵ binh chính là “cánh tay nối dài” của tốc độ. Trong chiến tranh, yếu tố bất ngờ và thời gian có thể quyết định cục diện. Kỵ binh Tây Sơn đã giúp biến ý chí quyết đoán của người cầm quân thành hiện thực trên chiến trường. Sự cơ động ấy khiến đối phương không kịp củng cố, không đủ thời gian tổ chức phản công, và nhanh chóng rơi vào thế bị động.
Biểu tượng của truyền thống thượng võ
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, hình ảnh kỵ binh Tây Sơn tung vó trong mùa xuân lịch sử vẫn là biểu tượng sống động của tinh thần quật khởi. Đó không chỉ là câu chuyện về chiến thuật, mà còn là câu chuyện về con người và vùng đất.
Bảo tàng Quang Trung (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) là nơi lưu giữ nhiều tư liệu về nhà Tây Sơn. Ảnh: Ngọc Nhuận
Từ vùng đất Võ, từ không gian văn hóa nối liền đồng bằng duyên hải với cao nguyên của tỉnh Gia Lai hôm nay, phong trào nông dân Tây Sơn đã hun đúc nên truyền thống thượng võ, tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng tự chủ mạnh mẽ. Những chiến mã năm xưa vì thế cũng mang trong mình dấu ấn của điều kiện địa lý, của đời sống cư dân gắn với núi rừng và thảo nguyên.
Ngày nay, trong việc bảo tồn và phát huy di sản Tây Sơn, hình tượng kỵ binh có thể được khai thác như một biểu tượng văn hóa đặc sắc. Không chỉ tái hiện trong lễ hội, bảo tàng hay các sản phẩm du lịch lịch sử, hình ảnh ấy còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, hun đúc niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
Tiết mục biểu diễn trống trận Tây Sơn, góp phần tái hiện khí thế hào hùng mùa xuân năm xưa. Ảnh: Ngọc Nhuận
Đại thắng Ngọc Hồi - Đống Đa là bản anh hùng ca bất diệt của dân tộc Việt Nam. Trong bản anh hùng ca ấy, bên cạnh thiên tài quân sự của Hoàng đế Quang Trung, những vó ngựa Tây Sơn đã góp phần tạo nên nhịp điệu thần tốc của chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
Âm vang của những vó ngựa năm nào không chỉ thuộc về quá khứ. Đó còn là lời nhắc nhở về sức mạnh của ý chí dân tộc khi hội tụ đủ quyết tâm, tổ chức và lòng yêu nước. Từ “bão táp Tây Sơn” của lịch sử, tinh thần thần tốc và quyết đoán ấy vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc dựng xây và phát triển quê hương Gia Lai hôm nay.
ĐOÀN NGỌC NHUẬN