KỶ NIỆM 115 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5-6-1911 - 5-6-2026) Từ Paris, Hồ Chí Minh nhìn về Biên Hòa

KỶ NIỆM 115 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5-6-1911 - 5-6-2026) Từ Paris, Hồ Chí Minh nhìn về Biên Hòa
3 giờ trướcBài gốc
1. Tháng 9-1910, sau khi lưu luyến rời trường Dục Thanh (thuộc địa bàn phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng ngày nay), thầy giáo Nguyễn Tất Thành xuống ghe bầu của Công ty Nước mắm Liên Thành vào Sài Gòn. Trên đường đến Vũng Tàu thì thuyền gặp bão, thầy phải vào Bà Rịa lên Long Thành để tìm đường về Sài Gòn. Do hồi đó chưa có đường sắt, còn đường bộ chỉ là những con đường đất cho người đi bộ và xe thổ mộ qua lại, cho nên đường về Bến Nhà Rồng, có lẽ Người đã qua một bến đò nào đó hoặc đi bộ qua cầu Rạch Cát, cầu Gành (còn gọi là cầu Ghềnh vừa được khánh thành thời bấy giờ).
Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920. Ảnh tư liệu
Về Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành lần lượt trú ngụ ở các cơ sở của Công ty Liên Thành nhưng lâu nhất là ở một ngôi nhà trên đường Qual Terlard (nay là số 5, đường Châu Văn Liêm - di tích lịch sử quốc gia đặc biệt) để đi làm ở trường nghề École des Uacanislens.
Từ đây, Người xuống tàu buôn của người Pháp vào ngày 5-6-1911, bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước suốt 30 năm với ước mong cháy bỏng: “…Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi. Đó là những điều tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu”. Khát vọng này đã được Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 55 năm sau khi Người ra đi tìm đường cứu nước (1911-1966).
Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều thành phố ở các châu lục khác nhau, kể cả New York (Hoa Kỳ) - nơi có bức tượng Nữ thần tự do nổi tiếng mà nước Pháp tặng cho Hoa Kỳ năm 1886. Địa danh Biên Hòa thời đó (năm 1916, Biên Hòa mới có nhà máy phát điện loại nhỏ) chưa có ấn tượng trong lòng người viễn xứ. Nhưng hơn 10 năm sau, từ Paris - “kinh đô ánh sáng”, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã hướng suy nghĩ về Biên Hòa và địa danh Biên Hòa đã được Nguyễn Ái Quốc trang trọng đưa vào chương I: “Thuế máu” của quyển sách Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Proces’ de la colonization Francaise). Quyển sách có nội dung như một quả bom nổ tung sau khi phát hành (năm 1925), xé toạc một mảng lớn lá cờ khai hóa, được ngụy trang bằng mấy chữ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà thực dân Pháp giương cao khi đưa những đạo quân đi xâm lược các thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
2. Do quy luật phát triển không đều, mâu thuẫn giữa các nước tư bản diễn ra ngày càng gay gắt về phân chia lại thị trường và thống trị thuộc địa nên các nước đế quốc đã chĩa súng vào nhau và chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra (1914-1918). Cùng với nguyên nhân vừa nêu, nước Pháp đế quốc háo hức tham gia vào cuộc chiến tranh đẫm máu này, bởi chủ nghĩa phục thù và ước mơ giành lại 2 vùng đất trù phú: Alsace và Lorrainne bị mất sau chiến tranh Pháp - Phổ (tiền thân của nước Đức) năm 1871.
Nhằm giảm đến mức tối đa thương vong cho các thanh niên da trắng ở chính quốc, từ năm 1915, thực dân Pháp đã huy động hàng trăm ngàn thanh niên da màu ở các thuộc địa Tây Phi, Bắc Phi và Đông Dương, trong đó có Việt Nam (là chủ yếu) đưa sang các chiến trường châu Âu và họ đã đau đớn ngã xuống hoặc biến thành những linh hồn phiêu bạt. Có tài liệu cho rằng, có khoảng 80 ngàn thanh niên ở các xứ thuộc địa đã không có cơ hội quay về cố hương. Ước tính có hơn 30 ngàn thanh niên Việt Nam đã chết do chiến đấu, do bệnh tật, nhất là bệnh lao và bệnh cúm Tây Ban Nha.
Với từng ấy người chết, thì ngần ấy gia đình ở Việt Nam đã mất chồng, mất cha, mất con; gây nên nỗi oán hận khôn nguôi và nỗi đau này lan ra cả xã hội Việt Nam. Cho nên, để xoa dịu nỗi oán giận của người bản xứ, chính quyền thực dân đã cho xây dựng bia tưởng niệm ở Huế, Sài Gòn; đài kỷ niệm ở Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Trong các bia, đài kỷ niệm này, chỉ có Đài chiến sĩ trận vong ở Biên Hòa được Nguyễn Ái Quốc đưa vào nội dung chương “Thuế máu” (chương I) của Bản án chế độ thực dân Pháp và địa danh này cho đến ngày nay vẫn còn được nhắc đến.
Khi viết những dòng chính luận mang tính phê phán gay gắt thực dân Pháp và trào phúng một cách mỉa mai, hẳn Nguyễn Ái Quốc đã nhớ đến Biên Hòa - một trong những vùng đất mà Nguyễn Đình Chiểu đã từng mô tả “…Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây” - nơi Người đã từng đi qua hồi năm 1910.
3. Có một câu hỏi được hậu thế nêu ra là vì sao trong mấy công trình kỷ niệm chiến sĩ (trận vong) mà người Pháp xây dựng ở Việt Nam, do đâu Nguyễn Ái Quốc lại chọn đài kỷ niệm ở Biên Hòa để đưa vào quyển sách Bản án chế độ thực dân Pháp?
Có lẽ cái đài tưởng niệm này tập trung quá nhiều mâu thuẫn: Trước hết và bao trùm nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chính sách cai trị hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa những người nông dân thấp cổ bé họng, nghèo khổ với những ông chủ đất đang tham gia các hội đồng xã, hội đồng hương chính, làm cai tổng, tri huyện (kể cả dùng tiền mua chức tri phủ) và các mâu thuẫn cụ thể khác như: mâu thuẫn giữa nông dân, công nhân cao su với bọn cai đại diện cho các ông chủ tư bản Pháp (mỗi người bao chiếm vài ngàn mẫu đất) ở Xa Trạch, Cam Tiên, Dầu Giây, Quản Lợi, Dầu Tiếng, Xa Cam, Lộc Ninh, Phú Riềng… Rồi nhìn lên những lá cờ Tam tài bay trên cái kỳ đài có cổng như Ngọ môn ở Huế, người Biên Hòa nhớ đến nỗi đau của Hòa ước Nhâm Tuất (năm 1862); nhớ đến câu “Rồng chầu ngoài Huế/ Ngựa tế Đồng Nai”; nhớ đến Nghĩa sĩ Cần Giuộc; khởi nghĩa Phan Xích Long, Nguyễn Hữu Trí ở Sài Gòn và đặc biệt nhớ đến 9 nghĩa sĩ của Lâm Trung trại - (những người vận động nhân dân chống lại việc Pháp bắt lính đưa sang châu Âu) bị xử tử hình ở dốc Sỏi, chỉ cách đài tưởng niệm khoảng 500m…
Qua nội dung “Thuế máu” trong Bản án chế độ thực dân Pháp, từ Paris, Nguyễn Ái Quốc đã nghĩ về Biên Hòa, nhìn về Biên Hòa, nhìn về Việt Nam bằng cái nhìn thấu cảm, sẻ chia và hy vọng, tin tưởng những hòn than yêu nước ủ dưới gốc cao su, bên bờ ruộng, mương nước, góc hẻm ở Biên Hòa (Việt Nam) sẽ có ngày bùng cháy. Và thực sự sau đó, nó đã bùng cháy.
Mai Sông Bé
Nguồn Đồng Nai : https://baodongnai.com.vn/chinh-tri/202606/ky-niem-115-nam-ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc-5-6-1911-5-6-2026-tu-paris-ho-chi-minh-nhin-ve-bien-hoa-c294ce1/