Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nguồn: Internet
Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, từ thuở thiếu thời, Phạm Văn Đồng đã sớm cảm nhận được nỗi đau của một dân tộc mất nước và nung nấu ý chí tìm đến con đường giải phóng dân tộc. Năm 1921, khi còn là cậu học trò 15 tuổi ở Trường Quốc học Huế, Phạm Văn Đồng đã có dịp tiếp xúc với sách báo tiến bộ và sớm hòa mình vào phong trào yêu nước của học sinh.
Năm 1926, bước ngoặt lớn đầu tiên của cuộc đời cách mạng đến với Phạm Văn Đồng khi được tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy. Được gặp gỡ, lắng nghe và học hỏi từ Người, Phạm Văn Đồng như được thắp sáng lý tưởng. Từ một thanh niên yêu nước, đồng chí từng bước trở thành người chiến sĩ cách mạng chân chính, người học trò xuất sắc và trung kiên nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Con đường cách mạng không bao giờ trải hoa hồng. Năm 1929, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn và bị kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đảo. Gần 7 năm trong lao tù đế quốc, chứng kiến bao đau thương, mất mát, nhưng không giam cầm, xiềng xích nào có thể bẻ gãy ý chí và niềm tin của người cộng sản trẻ tuổi ấy. Trong ngục tù, Phạm Văn Đồng vẫn kiên trì học tập, rèn luyện, giữ vững ngọn lửa lý tưởng cách mạng.
Sau khi được trả tự do, đồng chí lại tiếp tục hoạt động trên mặt trận báo chí công khai thời kỳ Mặt trận Dân chủ; được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Kể từ thời điểm đó, đồng chí được làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - là người đồng hành tin cậy, người cộng sự đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được giao phó những trọng trách ngày càng lớn lao hơn: Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, rồi Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đem toàn bộ tâm huyết, trí tuệ và sức lực cống hiến cho Đảng, cho dân tộc, không giữ lại cho riêng mình điều gì.
Trong lãnh đạo kinh tế, đồng chí luôn đặt yêu cầu cao về hiệu quả, tiết kiệm và liêm chính. Trên cương vị Thủ tướng qua hai cuộc kháng chiến và thời kỳ đầu xây dựng đất nước, đồng chí không ngừng tìm tòi, trăn trở để xây dựng một bộ máy Nhà nước tinh gọn, phục vụ Nhân dân thật sự. Khi đất nước thống nhất, đứng trước những khó khăn chồng chất của nền kinh tế, đồng chí là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên cho tư duy đổi mới, dũng cảm chỉ đạo mở cơ chế mới trong sản xuất, kinh doanh, từng bước phá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp.
Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, vì dân, vì nước
Nếu sự nghiệp chính trị của đồng chí Phạm Văn Đồng gắn với những trang sử hào hùng của dân tộc, thì nhân cách của đồng chí lại tỏa sáng qua những điều giản dị, đời thường nhưng vô cùng cao quý. Ở đồng chí hội tụ đầy đủ những phẩm chất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: tận trung với Đảng, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; luôn nói đi đôi với làm và mang trong mình tấm lòng nhân ái, bao dung.
Là người giàu lòng nhân hậu và tinh thần dân tộc sâu sắc, đồng chí luôn quan niệm rằng bất kỳ ai là người Việt Nam - không phân biệt xuất thân, trong nước hay ngoài nước - nếu có lòng yêu nước, muốn góp sức cho dân, cho nước đều xứng đáng được trân trọng. Chính bằng uy tín và tấm gương nhân cách ấy, đồng chí đã cảm hóa được nhiều trí thức Việt kiều có tên tuổi trở về Tổ quốc kháng chiến và vận động được nhiều trí thức ở vùng tạm chiếm tham gia cách mạng.
Với đồng chí, việc chăm lo đời sống Nhân dân không phải là khẩu hiệu mà là trách nhiệm canh cánh trong lòng. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước vừa giành độc lập đã phải đối mặt với nạn đói khủng khiếp cướp đi sinh mạng của gần hai triệu đồng bào. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính, thay mặt Chính phủ, đồng chí đã nhanh chóng ký nghị định giảm thuế và hoãn thuế cho nông dân - một quyết định kịp thời thể hiện tấm lòng vì dân sâu nặng của người lãnh đạo.
Với các trí thức, văn nghệ sĩ, đồng chí Phạm Văn Đồng vừa là người anh, vừa là người bạn lớn chân thành. Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà khoa học đã được đồng chí lắng nghe, chia sẻ, động viên và tìm mọi cách tháo gỡ khó khăn. Hình ảnh người Thủ tướng đến thăm trận địa phòng không, bệnh viện, trường học, công trường, cánh đồng... ân cần hỏi han từng cán bộ, chiến sĩ, từng người dân lao động - hình ảnh đó không chỉ là nguồn cổ vũ tinh thần mà còn in đậm mãi trong ký ức những người đã được gặp đồng chí.
Có lẽ điều làm Nhân dân kính trọng và yêu mến đồng chí Phạm Văn Đồng nhất chính là sự giản dị, khiêm nhường đến mức tự nhiên - như một nét tính cách được bồi đắp qua cả cuộc đời chứ không phải được trau chuốt để phô bày. Những năm làm Đặc phái viên ở Nam Trung bộ, đồng chí đề nghị mượn nhà dân làm trụ sở cơ quan, đi lại bằng xe đạp hay đi bộ, ăn uống sinh hoạt chung với anh em cán bộ. Những năm ở Việt Bắc, nơi ở và làm việc của đồng chí là hầm kèo hoặc hang núi. Và khi trở về Hà Nội, dù là Thủ tướng hay khi đã nghỉ hưu, đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn sống giản dị, liêm khiết, mẫu mực, khiêm nhường.
Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phạm Văn Đồng là một bản trường ca về lòng trung thành với lý tưởng, về tình yêu đất nước và đức hy sinh thầm lặng. Những gì đồng chí để lại cho Đảng và dân tộc không chỉ là những trang sử vẻ vang, mà còn là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng - về một cuộc đời sống vì Nhân dân, chan hòa với Nhân dân, không một ngày xa rời Nhân dân.
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng diễn ra trong không khí cả nước phấn khởi, tự hào sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là dịp để mỗi chúng ta không chỉ tưởng nhớ và tri ân một nhà lãnh đạo vĩ đại, mà còn tự nhắc nhở mình nguyện sống và làm việc xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã dâng hiến - nỗ lực học tập, lao động, cống hiến, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách, góp sức xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Ngân Hà