Bài
1:
Hạt nhân tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới…”(1). Trước những thách thức mới của thế giới và yêu cầu phát triển của đất nước tương lai, càng đòi hỏi cần tiếp tục phát triển và nâng tầm hệ tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là một chủ thuyết phát triển Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh - nguồn mạch và sức sống hiện thực của lý luận cách mạng Việt Nam
Toàn bộ di sản tư tưởng và phương lược hành động của Người, kể từ năm 1919, với bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm gửi tới Hội nghị Vec-xay (Pháp) tới tuyệt phẩm cuối cùng là bản Di chúc, năm 1965 - 1969, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã trở thành nền tảng tư tưởng phát triển của dân tộc Việt Nam xuyên qua hai thế kỷ XX và XXI. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ giá trị Việt Nam kết tinh trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, truyền thống dân tộc và hợp lưu tinh hoa nhân loại được hiện thực hóa và phát triển bằng cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong thời đại ngày nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn mạch và sức sống hiện thực của lý luận cách mạng Việt Nam hơn 107 năm qua.
Ở Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nguyên lý tối thượng của cách mạng Việt Nam. Đó là lý tưởng cả cuộc đời Người lựa chọn, phụng sự và dẫn dắt dân tộc dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh - nguồn mạch và sức sống hiện thực của lý luận cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu
Trong tư tưởng và thực tiễn, Người phụng sự trước hết và sau cùng không gì khác ngoài những vấn đề căn bản: Dân tộc – Dân chủ – Dân sinh – Dân quyền – Xã hội chủ nghĩa.
Đó là 5 giá trị bất biến mà Hồ Chí Minh khai mở như một “trụ cột thép” của lý luận, tư tưởng và hành động chính trị của Người và của dân tộc. Đó chính là “ham muốn tột bậc” của tư tưởng và hành động bền bỉ suốt cuộc đời, khi ngày 26/1/1946, sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời được 4 tháng, Người trả lời phỏng vấn của các nhà báo quốc tế: Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, trên nền móng một nền chính trị văn minh, kinh tế phát triển, văn hóa bản sắc… Và, cũng là khát vọng của Người gửi trong Di chúc, ngày 10/5/1969: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(2).
Đối với Người, con người là trung tâm - mục tiêu - động lực của cách mạng, của xã hội mới. Người đặc biệt nâng niu và bảo vệ con người Việt Nam như tài nguyên số 1 quốc gia, vừa là chủ thể kiến tạo, vừa là thành quả phát triển của đất nước độc lập. Đây là sự sáng tạo trong tư duy của Người khi nhìn nhận từ quyền của cá nhân trở thành quyền của dân tộc; quyền của cá nhân sẽ là vô nghĩa nếu không nằm trong quyền tự do của dân tộc.
Thực tiễn cách mạng thế giới khẳng định, tư tưởng thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh khi Người đặt quyền con người thống nhất với quyền dân tộc. Đó là cội nguồn của sự thống nhất biện chứng giữa quyền độc lập dân tộc và quyền tự do của mỗi con người Việt Nam trong toàn nhân loại và trước toàn cầu. Đó cũng chính là tiêu ngữ: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc dưới Quốc huy của chính thể Việt Nam gần 81 năm qua.
Khi Hồ Chí Minh nói: Nắm vững ngọn cờ đại nghĩa trong thời đại mới, Người muốn khắc sâu bất cứ lúc nào và bất cứ đâu cũng phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và đó là một thể thống nhất hữu cơ. Trong bối cảnh toàn cầu biến đổi phức tạp, càng chủ động hội nhập thế giới càng phải độc lập, sáng tạo trong việc nắm lấy văn hóa và trí tuệ làm sức mạnh mềm căn bản của dân tộc.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể phác thảo: Đối với chính trị, là tầm nhìn xa, là khát vọng cháy bỏng và nhu cầu tiếp tục phát triển quốc gia của Đảng và dân tộc ta trong 20 năm tới - năm 2045. Đối với kinh tế, phát triển chỉnh thể công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ giàu có… độc lập và tự chủ. Đối với xã hội, là cội nguồn phát triển niềm tin, ý chí, bản lĩnh, khí phách để toàn dân tộc bước vào kỷ nguyên phú cường. Và, đối với quốc tế, định vị gương mặt, giá trị và vị thế Việt Nam trong thế giới với sức mạnh và uy tín sánh vai cùng thời đại.
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh rất phong phú và độc đáo. Ở đây, nổi bật 3 phẩm chất:
Thứ nhất: Biện chứng - thực tiễn: Hồ Chí Minh luôn nhìn sự vật trong quan hệ động, gắn với đời sống thực tiễn của dân tộc và thời đại như một chỉnh thể. Có thể khẳng định, tư duy Hồ Chí Minh không dừng ở nhận thức mà đi đến hành động và cải biến hiện thực.
Thứ hai: Độc lập - sáng tạo: Người không giáo điều, càng không thực dụng và càng không “phức tạp hóa”, “thần bí hóa” mà Việt hóa, dân tộc hóa, nhân văn hóa học thuyết Mác – Lê-nin. Đó chính là tầm nhìn xa, tư duy mở, mang tầm thực tiễn dân tộc lớn lao và tinh thần vượt trước thời đại một cách độc lập, phù hợp trong việc tiếp thu tinh hoa nhân loại trên con đường phát triển dân tộc Việt Nam.
Thứ ba: Toàn diện - hệ thống: Người nhìn vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như một chỉnh thể làm cơ sở phương pháp luận kiến giải về tầm nhìn chiến lược phát triển Việt Nam.
Hồ Chí Minh không chỉ mô tả lịch sử hay viết về lịch sử mà Người phát hiện, kiến giải lô-gíc vận động của lịch sử và tìm ra phương sách để tạo ra lịch sử và hành động theo quy luật.
Phương lược chính trị Hồ Chí Minh
Chiến lược chính trị lớn nhất của Hồ Chí Minh là dựa vào dân, khơi dậy sức dân và vì dân. Đó là nền tảng căn bản và hiện thân sinh động của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Với Người, tư tưởng Dân là gốc phải là nguyên lý vàng cho mọi mục tiêu cách mạng, mọi thiết kế đường lối trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong sâu thẳm tiềm thức và đỉnh cao hành động của Người, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(3) , “ý dân là ý trời”(4).
Trong tư tưởng và hành động của Người, trong thế giới chia phe, thậm chí biệt lập, để xây dựng Việt Nam phồn vinh và gìn giữ đất nước, phải khéo kết hợp sức mạnh dân tộc sức mạnh thời đại, xây dựng lực lượng chính trị dân tộc đồng thời tận dụng sức mạnh quốc tế. Đây là trụ cột để Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững bản sắc nhằm vừa củng cố nền độc lập, sức mạnh tự chủ và tự quyết. Trên nền móng dân tộc độc lập, sự hùng cường là điều kiện và sức mạnh gìn giữ nền độc lập chân chính, bền vững, bảo vệ sự thống nhất toàn vẹn quốc gia, bảo đảm quyền tự quyết dân tộc và nền độc lập càng trở nên triệt để và hoàn toàn. Vì, Nhân dân không thể có tự do nếu dân tộc bị lệ thuộc vào dân tộc khác hoặc đất nước bị cùm trói mình trong vòng tay nô dịch của quốc gia khác, dù dưới bất cứ hình thức và mức độ nào. Hệ tư tưởng và hành động Hồ Chí Minh quán xuyến và làm chủ chiến lược phát triển đất nước một cách bền vững và nhân văn: từ giành độc lập, kiến quốc, đến xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Phương thức hành xử Hồ Chí Minh
Ở Hồ Chí Minh, đó là sự kết tinh và tỏa sáng trí tuệ - nhân văn và bản lĩnh. Người đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất giữa mục tiêu cách mạng và phương thức cách mạng một cách nhân văn bằng sự hành xử mềm dẻo nhưng kiên định, vừa khoan dung vừa nguyên tắc. Đó là đỉnh cao văn hóa chính trị Việt Nam: xử lý tình huống trong nước và quốc tế bằng trí tuệ, bản lĩnh và nhân văn.
Phương châm hành xử quán xuyến và xuyên suốt của Người là nắm lấy đối thoại trước hết và kiên trì thay vì đối đầu trong bất cứ hoàn cảnh và đối tượng nào và ở bất cứ phương diện nào trong các mối quan hệ đối nội hay đối ngoại. Với tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh luôn chủ trương hòa giải, tìm mẫu số chung lớn nhất cần vận dụng để gợi mở cách hóa giải mọi sự khác biệt, mọi xung đột trong đối ngoại hay quản trị đất nước.
Với Hồ Chí Minh, nói đi đôi với làm, nêu gương phải là phong cách trước hết và sau cùng của đảng viên, cán bộ. Và, hơn ai hết, Người là biểu tượng của tấm gương nói ít làm nhiều, làm trước nói sau… Người nói: Làm cách mạng là phải biết thương dân, thương đồng chí. Người là biểu tượng mẫu mực về năng lượng thu hút và trọng dụng nhân tài. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh như một nguyên tắc quản trị quốc gia trên nền sự phát triển đội ngũ đảng viên, cán bộ một cách chặt chẽ nhưng thấm đẫm nhân văn.
Có thể khẳng định, chủ thuyết Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm lý luận, tư tưởng và hành động về thế giới, quốc gia, xã hội và con người trên nền móng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tinh hoa tư tưởng nhân loại; mang tầm vóc vạch kỷ nguyên, thời đại mới của đất nước và giữ vai trò định hướng, dẫn dắt dân tộc tới độc lập, tự do, thống nhất, tự chủ, tự quyết vì hòa bình và phát triển giàu mạnh, bền vững, hạnh phúc; góp phần phát triển tư tưởng nhân loại và kiến tạo thế giới hòa bình, dân chủ, văn minh và tiến bộ. Đó là chủ thuyết phát triển độc lập, sáng tạo dân tộc và nhân loại mang bản sắc Việt Nam trong sự phát triển thống nhất và độc lập của chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong thời đại ngày nay.
Thời cơ và thách thức mới từ yêu cầu phát triển
Với khát vọng phát triển đến năm 2045, từ mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc hoạch định tầm nhìn Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu, chủ thuyết Hồ Chí Minh không phải là một “di sản tĩnh” mà trở thành nguồn sáng tạo, là động lực mở phát triển, là bản sắc Việt Nam trong thế giới tư tưởng phong phú và đa dạng.
Trong sự kế thừa - phát triển, sức mạnh tinh thần dân tộc, giá trị phát triển cốt lõi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, cầntiếp tục bổ sung những vấn đề và nội dung mới theo yêu cầu phát triển của đất nước phù hợp với sự vận động mới của thế giới. Đó phải là sức sống hiện thực và tầm vóc Việt Nam hiện đại, độc lập, sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số… Đó là con đường tự phát triển và nhân lên sức sống của chủ thuyết Hồ Chí Minh trong đời sống hiện thực của đất nước và tinh thần thời đại với tư cách là nhân tố căn bản kết tinh trong nền tảng tư tưởng phát triển Việt Nam. Điều quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định sức sống của chủ thuyết Hồ Chí Minh là chuyển hóa lý luận, cương lĩnh chính trị thành cương lĩnh hành động.
Hệ thống lý luận phát triển quốc gia trên nền móng chủ thuyết Hồ Chí Minh tự nó phải mang tính khai mở, độc lập song hành với hội nhập quốc tế sáng tạo. Với tinh thần đối thoại, hội nhập, tiếp biến văn minh nhân loại, nhưng phải giữ linh hồn Việt Nam, căn tính, bản sắc Việt Nam phù hợp với xu thế của thời đại. Đó chính là tính độc lập, sáng tạo, hiện thực, phù hợp với hệ động lực và khả thi của đường lối chính trị.
Thực tiễn phát triển đất nước thời gian qua cho thấy, càng ở những khúc quanh của lịch sử phát triển, nắm chắc chủ thuyết Hồ Chí Minh, trên nền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Việt Nam càng tìm thấy nhiều cơ hội và khả năng vượt qua một cách kỳ diệu.
Trong tầm nhìn phát triển Việt Nam tới năm 2045, không thể không lấy văn hóa, con người và đạo lý phát triển làm nền móng; mặt khác, lấy nhà nước kiến tạo, xã hội công bằng làm trục phát triển; và, đồng thời, lấy giàu mạnh - bền vững - nhân văn - trường tồn” làm đích đến.
Đặt chủ thuyết Hồ Chí Minh trong dòng chảy phát triển của dân tộc và thế giới, vừa kế thừa chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa Việt Nam hóa độc lập và sáng tạo. Mọi sự hiện thực hóa phải xuất phát từ thực tiễn dân tộc và gắn với thời đại toàn cầu. Đồng thời, đặt chủ thuyết Hồ Chí Minh trong tầm nhìn lịch sử - tương lai, khi tư tưởng của Người không chỉ là giá trị lịch sử mà tiếp tục được chắt lọc và kết tinh thành hệ triết lý hành động dẫn dắt sự nghiệp đổi mới, phát triển, hội nhập, vì Việt Nam phát triển giàu mạnh vào giữa thế kỷ XXI.
Phương pháp luận và nghệ thuật phát triển chủ thuyết Hồ Chí Minh
Trong chủ thuyết Hồ Chí Minh đã hàm chứa giá trị không chỉ cần “giữ lại” mà còn “phát triển” bằng cách tìm thấy sự tương đồng và khác biệt xung quanh các yếu tố hợp thành triết lý phát triển, triết lý nhân sinh, triết lý hội nhập, phát triển và phản phát triển nhằm thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thậm chí thứ năm đang tới trong hoạch định đường lối chính trị và tổ chức thực tiễn.
Tư duy Hồ Chí Minh về tầm nhìn dài hạn và chuẩn bị từ xa, bảo đảm sự trường tồn của dân tộc chính là như vậy. Do đó, ở đây, cần năng lực nhìn xa, dự báo đúng đắn sự vận động của đất nước song hành với xu thế vận động của thế giới, từ đó hoạch định đường lối chính trị chiến lược phát triển đất nước một cách khoa học, phù hợp và khả thi.
Chân lý không thể chứng minh bằng những khẩu hiệu hay những ý tưởng tốt đẹp. Vì thế, bằng nhiều hình thức: chính luận, diễn ngôn mạnh mẽ, biến lý luận khô khan thành thông điệp giàu sức lay động quyết định việc hiện thực hóa chủ thuyết Hồ Chí Minh bằng hành động của toàn xã hội, từ các cấp lãnh đạo, quản lý đến toàn thể nhân dân. Đó chính là từ “hành” của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phát triển bằng tư duy mở - hệ thống - tổng thể: Không dừng ở việc giữ gìn mà phải làm giàu, hiện đại hóa và toàn cầu hóa triết thuyết Hồ Chí Minh trên mỗi lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao…), tiếp tục phát hiện sự vận hành của những quy luật và nâng thành chủ thuyết Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược nhằm dẫn dắt và phát triển đất nước.
Khai mở tầm nhìn và nuôi dưỡng khát vọng dân tộc: Khát vọng luôn tồn tại trong ý thức nhưng phải bắt rễ sâu xa và thành hành động. Nó là cây cầu nối giữa dân tộc hiện thực với lịch sử tương lai. Do đó, nghiền ngẫm khát vọng phát triển giàu mạnh, bền vững xứng đáng với tư cách là động lực tinh thần, là tâm thế quốc gia và tâm lý quốc dân, là danh dự và uy tín dân tộc và quyết định nhất là hiện thực hóa khát vọng đó thành cơ chế - chính sách - hành động, với hệ động lực toàn vẹn và sức mạnh cụ thể tức là thể chế hóa tầm nhìn Hồ Chí Minh.
(1) Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Chinhphu.vn, ngày 20-01-2026.
(2)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 624.
(3)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2011, t. 7, tr. 434.
(4)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.63-64.
TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản