VPQH đã thực thi nhiều loại công việc với khối lượng vô cùng lớn, độ phức tạp của mỗi công việc rất cao. Ngoài điều kiện, phương tiện làm việc thì trọng tâm của tham mưu là công tác chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó tham mưu những vấn đề mang tầm chiến lược là trọng tâm của trọng tâm.
Dấu ấn hoạt động trong thời kỳ Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội
Những ngày đầu sau cuộc Tổng tuyển cử (6/1/1946), trong điều kiện chiến tranh lan rộng, ác liệt, Ban Thường trực Quốc hội là cơ quan làm việc thường xuyên bên cạnh Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp Kỳ họp thứ Nhất đã cử Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời Tuyên thệ trước Quốc hội. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Theo hồ sơ lưu trữ số 276 tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III, khi đó Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội chỉ có khoảng 18 cán bộ, nhân viên, được tuyển chọn từ các cơ quan Trung ương và đều là những người có phẩm chất cách mạng, tư cách, đạo đức tốt, tận tâm, tận lực thực thi nhiệm vụ. Mặc dù lực lượng còn rất mỏng nhưng ngay từ những ngày đầu, anh chị em Văn phòng đã giúp việc, tham mưu những vấn đề có ý nghĩa rộng lớn.
Ngày 16/4/1946, Văn phòng đã tham mưu cho Ban Thường trực Quốc hội tham gia tổ chức một phái đoàn gồm 10 đại biểu Quốc hội, do Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu công tác tại Pháp từ ngày 25/4 đến 16/5/1946 với nhiệm vụ làm cho nhân dân Pháp và số đông các chính khách Pháp hiểu rõ cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt Nam và mong muốn quan hệ giữa hai dân tộc Việt - Pháp thân thiện trên nền tảng thừa nhận ý nguyện độc lập, thống nhất của Việt Nam...
Cũng trong thời gian này, ở Nam bộ và Nam Trung bộ, quân Pháp vẫn luôn luôn khiêu khích, phá hoại Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Để có cơ sở pháp lý làm căn cứ đấu tranh, Văn phòng đã giúp Ban Thường trực Quốc hội xây dựng văn bản Lời hiệu triệu quốc dân đồng bào với nội dung cơ bản chống lại sự phản bội của quân Pháp đối với việc thực hiện Hiệp định sơ bộ. Lời kêu gọi của Ban Thường trực Quốc hội đã được quốc dân đồng bào hưởng ứng nhiệt liệt, tin tưởng và trọng vọng.
Ngày 3/5/1946, Văn phòng đã phục vụ Ban Thường trực Quốc hội thành lập một Đoàn công tác do Linh mục Phạm Bá Trực dẫn đầu cùng đại diện của Chính phủ vào Trung bộ để giải thích cho đồng bào hiểu rõ chính sách quốc gia liên hiệp của Chính phủ Hồ Chí Minh.
Tiếp đó, ngày 14/8/1946, Văn phòng đã phục vụ Ban Thường trực Quốc hội thành lập một phái đoàn đại biểu Quốc hội vào Nam Trung bộ úy lạo các chiến sĩ đang chiến đấu anh dũng, ngoan cường trên các mặt trận. Cũng trong thời gian này, Văn phòng đã giúp Ban Thường trực Quốc hội chỉ đạo soạn thảo Bản tuyên ngôn để hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết chặt chẽ, đập tan mọi âm mưu của địch nhằm chia rẽ các dân tộc...
Chỉ trong 8 tháng (thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội khóa I, từ tháng 3 - tháng 11/1946), Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội đã tham mưu, phục vụ ba Tiểu ban của Quốc hội xem xét và cho ý kiến vào 98 dự án Sắc lệnh do Chính phủ gửi sang. Tuyệt đại bộ phận các ý kiến của Ban Thường trực Quốc hội về các dự án Sắc lệnh đã được Chính phủ tiếp thu, trong đó được tiếp thu nhiều nhất là các dự án Sắc lệnh về lao động, giáo dục...
Ngay từ buổi ban đầu với tinh thần hăng say cách mạng, anh chị em đã làm việc hết sức tận tụy và có trách nhiệm cao nên đã giúp Ban Thường trực Quốc hội giải quyết thấu đáo nhiều công việc hệ trọng. Đó cũng là tiền đề để VPQH các giai đoạn tiếp sau học hỏi, rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ Quốc hội trong từng nhiệm kỳ.
Từ Văn phòng Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Văn phòng Quốc hội
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960-1964) đến nay, bên cạnh các hoạt động phục vụ về điều kiện và phương tiện làm việc của Quốc hội thì tham mưu chiến lược theo chức năng của Quốc hội có khối lượng công việc ngày càng lớn và đến nay là đồ sộ đối với VPQH.
Trước hết, về tham mưu công tác lập pháp, chỉ tính về số lượng, nếu 7 khóa đầu của Quốc hội (từ 1946 đến 1987), Văn phòng mới tham mưu phục vụ xây dựng được 29 đạo luật và 3 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1980), thì 8 khóa Quốc hội tiếp sau, bắt đầu từ khóa VIII (1987-1992 - khóa đầu tiên của công cuộc Đổi mới) đến hết nhiệm kỳ khóa XV, với sự tham mưu phục vụ đắc lực của VPQH, Quốc hội đã xây dựng, thông qua được 580 đạo luật và 2 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2001 và Hiến pháp năm 2013).
Đặc biệt, từ đầu thế kỷ XXI tới nay, 5 khóa Quốc hội (từ khóa XI đến khóa XV) Quốc hội đã xây dựng, ban hành tới 473 đạo luật, trung bình mỗi khóa xây dựng, ban hành hơn 94 luật. Riêng khóa XV Quốc hội đã xây dựng và thông qua 150 luật.
Như vậy, trong 80 năm hình thành và phát triển, 15 nhiệm kỳ Quốc hội với 138 kỳ họp thường niên và 9 kỳ họp bất thường, VPQH đã phục vụ Quốc hội xây dựng và ban hành 5 bản Hiến pháp, 609 luật, bộ luật và hàng nghìn nghị quyết, trong đó có khoảng 50% nghị quyết có quy phạm pháp luật; phục vụ Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Nhà nước xây dựng và ban hành 196 pháp lệnh. Đến nay, có hơn 400 luật và 6 bộ luật đang có hiệu lực thi hành trên thực tế đời sống xã hội.
Trong quy trình 6 công đoạn xây dựng luật, VPQH đã tham mưu phục vụ 4 công đoạn rất quan trọng. Đó là Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; phục vụ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến vào các dự án để trình ra Quốc hội; phục vụ Quốc hội tiếp thu, chỉnh lý và thông qua các luật.
Tương tự như vậy, trong tham mưu phục vụ hoạt động giám sát, VPQH đã hoàn tất khá nhiều công việc cụ thể, trong đó có 3 loại việc rất quan trọng.
Một là, tham mưu cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai có hiệu quả tất cả 6 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp theo luật định (ngoại trừ hình thức thành lập Ủy ban lâm thời), đặc biệt có hiệu quả cao là hình thức giám sát lấy phiếu tín nhiệm và chất vấn, trả lời chất vấn.
Hai là, tham mưu để Quốc hội chấp nhận hình thức giám sátchuyên đề (là một hình thức giám sát có tác dụng nhiều mặt), do đó hình thức này đã được luật định là một trong 7 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội.
Ba là, tham mưu thường xuyên đổi mới hình thức giám sát hoạt động chất vấn, trong đó có tái chất vấn, chất vấn tổng thể. Tiến hành tái giám sát, kết hợp các hình thức giám sát với nhau, giám sát tổng thể thực hiện kiểm soát quyền lực trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ đó, hầu như toàn bộ các thành viên Chính phủ, toàn bộ các chức danh đứng đầu các cơ quan nhà nước đều đã đăng đàn trả lời chất vấn trong nhiều lần giám sát bằng hình thức chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm. Vì vậy, nhiều vấn đề chất vấn đã đạt được phương châm “đi tới tận cùng”...
Với chức năng thứ ba của Quốc hội - quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, VPQH đã tham mưu theo hướng thực thi đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm đạt đến hiệu lực, hiệu quả cao nhất.
Theo đó, trong thời kỳ chiến tranh, tất cả các quyết định của Quốc hội đều nhằm chi viện sức người, sức của lớn nhất cho tiền tuyến lớn miền Nam và bảo vệ vững chắc miền Bắc - hậu phương lớn của tiền tuyến lớn; giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ sau khi hoàn thành thống nhất nước nhà, thì các quyết sách của Quốc hội tập trung vào trọng tâm là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện cho được Di chúc thiêng liêng của Bác, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.Hiện nay, VPQH tiếp tục tham mưu để Quốc hội quyết định các giải pháp cùng cả nước thực hiện các mục tiêu mà Đảng ta đã xác định, đó là: đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Tham mưu sắp xếp lại tổ chức, bộ máy nhà nước nói chung, của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và VPQH nói riêng theo hướng tinh, gọn, nhẹ, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả...
Tham mưu chiến lược là loại công việc nặng nề, phức tạp, tiêu hao nhiều thời gian, hao phí nhiều lao động trí tuệ, nhưng VPQH đã và đang phấn đấu, nỗ lực với mức độ cao nhất để hoàn thành trọng trách của mình trước Quốc hội.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự gặp mặt các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Trung ương, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan của Quốc hội nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ ngày 23/2/2026. Ảnh: Hồ Long
Nói về sự nỗ lực của cán bộ VPQH, chiều 23/2/2026 - ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ tết nguyên đán, trong cuộc gặp gỡ đầu xuân với VPQH, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã đánh giá khái quát rằng, “VPQH đã nỗ lực lớn trong tham mưu, tổng hợp, bảo đảm thông tin đầy đủ, kịp thời; phối hợp hiệu quả với Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan, góp phần nâng cao chất lượng các kỳ họp, phiên họp và hiệu quả cơ chế phối hợp trong hệ thống chính trị, VPQH cũng khẳng định sự chuyên nghiệp, khả năng tổ chức tốt các sự kiện lớn” (Báo Đại biểu Nhân dân ngày 23/2/2026).
Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm VPQH Lê Quang Mạnh - Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử Quốc gia, phát biểu tại phiên họp của Văn phòng Hội đồng Bầu cử Quốc gia, triển khai công tác chuẩn bị bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031 ngày 26/12/2025. Ảnh: Trung Thành
Trong không khí phấn khởi đầu xuân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã giao ngay một số nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cho VPQH. Đó là phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Bầu cử Quốc gia, phục vụ có hiệu quả các hoạt động của lãnh đạo Quốc hội, Hội đồng Bầu cử Quốc gia, góp phần tổ chức thành công cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026-2031; tham mưu chuẩn bị kỹ lưỡng Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, phải xác định là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu với các nội dung chương trình làm việc, thời lượng cho kỳ họp, công tác nhân sự trong bộ máy nhà nước nhiệm kỳ mới, các nhiệm vụ về hậu cần... và phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong việc tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy khoa học, hợp lý, bảo đảm phục vụ tốt nhất mọi nhiệm vụ...
Quả thực, khối lượng công việc của VPQH ngày càng lớn, khó có thể cân, đong, đo, đếm cho đầy đủ - “quanh năm cấp bách, tứ mùa khẩn trương” - song nhiệm vụ nào cũng phải hoàn thành, công việc nào cũng phải khớp với thời gian và “sản phẩm” nào cũng phải bảo đảm chất lượng cao nhất.
TS. Bùi Ngọc Thanh - Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội