'Kỳ tích sông Hồng' - đánh dấu kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc ngay trên chính cái nôi của nền văn minh sông Hồng

'Kỳ tích sông Hồng' - đánh dấu kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc ngay trên chính cái nôi của nền văn minh sông Hồng
2 giờ trướcBài gốc
PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Hội Khảo cổ học Việt Nam
Ông đánh giá như thế nào về bề dày các di tích, di sản ở Hà Nội nói chung và khu vực sông Hồng nói riêng?
Hà Nội là một vùng đất cổ, một trung tâm Di sản văn hóa của đất nước, trải dài về thời gian từ tiền sử, sơ sử đến lịch sử cách mạng, trải rộng về không gian từ vùng núi cao Ba Vì đến đồng bằng cao, rồi đồng thấp, lầy trũng; đặc biệt với nhiều loại hình di tích khảo cổ đặc sắc, độc đáo, riêng có phân bố dọc đôi bờ sông Hồng.
Các di tích khảo cổ tiền sử Hà Nội tuy không nhiều, nhưng đại diện cho các giai đoạn phát triển chính yếu của thời tiền sử - thời kỳ chưa có chữ viết, chưa có giai cấp, chưa có nhà nước ở các giai đoạn khác nhau.
Mở đầu cho lịch sử cư trú của con người ở Hà Nội là vết tích văn hóa Đá cũ được biết đến ở vùng núi Ba Vì và đồi cao Đông Anh, Hà Nội. Đây chính là thềm cổ sông Hồng, thềm bậc II có tuổi Cánh tân. Sau 3 vạn năm, mực nước biển bắt đầu rút xuống, Ba Vì và Đông Anh là vùng đất cao của Hà Nội lúc đó, đã được cư dân Hậu kỳ Đá cũ chuyển đến cư trú, khai phá. Họ chế tác và sử dụng công cụ cuội ghè đẽo thô sơ, tiến hành săn bắt - hái lượm, mở đầu cho lịch sử vùng đất Hà Nội hôm nay. Những Dấu ấn văn hóa của họ mang đặc trưng văn hóa Sơn Vi, vốn phân bố tập trung ở vùng hợp lưu sông Hồng và sông Đà, thuộc miền trung du Phú Thọ, niên đại từ 3 đến 1 vạn năm cách ngày nay.
Dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng mở rộng không gian phát triển của Thủ đô về phía Bắc và Nam sông Hồng.
Sau 1 vạn năm, các cộng đồng cư dân sơ kỳ Đá mới bắt đầu chiếm lĩnh một số hang động như Sũng Sàm, hang Sập Bon và Hang Luận. Các cộng đồng này định cư khá lâu trong các hang động đá vôi, có hang kéo dài cho đến 5.000 năm, ở đó họ tiến hành săn bắt - hái lượm và khai thác thủy sản, thu lượm các loài nhuyễn thể nước ngọt trong thung lũng đá vôi. Kết quả khai quật cho biết, cư dân ở đây đã biết đến kỹ thuật mài đá làm công cụ, chế tạo đồ gốm khá sớm và đã biết thuần hóa một số loại cây rau củ, mở đầu cho hoạt động kinh tế sản xuất nguyên thủy ở khu vực.
Sau lần biển tiến Holocene trung (từ 7.000 đến 5.000 năm) là thời kỳ biển lùi. Một số nhóm cư dân hậu kỳ Đá mới bắt đầu vươn ra cư trú ngoài trời, khai phá đồng bằng ven biển Bắc Bộ đang trong quá trình hình thành. Trong tay họ đã có những chiếc rìu, chiếc cuốc đá mài nhẵn toàn thân, mà vết tích của họ đã tìm thấy ở các di tích Thắng Lợi, Hương Sơn, Đường Lâm...
Nhưng phải sau 4.000 năm, khi mà đồng bằng Sông Hồng cơ bản đã hình thành xong, cư dân sơ kỳ Kim khí bắt đầu vươn xuống chiếm lĩnh và khai phá đồng bằng cao, rồi đồng bằng thấp. Người ta tìm thấy hàng chục di tích văn hóa của cư dân mang đặc trưng các văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun ở hầu khắp các địa bàn trên thành phố Hà Nội. Những cư dân Tiền Đông Sơn ở Hà Nội định cư lâu dài, kế tiếp nhau, mở đầu cho nền văn minh sông Hồng, mà thành tự nổi bật là trồng lúa nước và luyện kim đúc đồng. Đây là lớp cư dân tiền Đông Sơn, đóng góp vào hình thành văn hóa Đông Sơn văn minh Việt cổ ở lưu vực sông Hồng, cơ tầng quốc gia Văn Lang Âu Lạc.
Giữa một vùng đất cổ ấy, sông Hồng có vai trò, vị thế đặc biệt. Sông Hồng quan trọng không chỉ với riêng thủ đô Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn hiến mà còn của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Dọc theo sông Hồng, hiện vẫn có nhiều điểm di tích văn hóa, làng cổ ghi đậm dấu ấn về Hà Nội.
Nghi lễ rước nước tại Lễ hội Chử Đồng Tử- Tiên Dung. Ảnh: Tư liệu
Có thể kể tới Vùng Cổ Loa hiện còn lưu giữ hàng loạt di chỉ khảo cổ học quan trọng, phản ánh quá trình phát triển liên tục của dân tộc Việt Nam từ sơ khai qua các thời kỳ. Làng cổ Đường Lâm, nằm bên hữu ngạn sông Hồng là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng di tích lịch sử Văn hóa quốc gia năm 2006. Cũng nằm ven sông Hồng, còn có thể kể tới làng gốm Bát Tràng, làng gốm Kim Lan... Đình Chèm, chùa Bồ Đề, đền Ghềnh, đền thờ công chúa Lê Ngọc Hân, đền Dầm, đền Đại Lộ, đền Đa Hòa (Hưng Yên)- nơi thờ một trong tứ bất tử của người Việt là Đức thánh Chử Đồng Tử...
Thưa ông, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVI cũng đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Ông đánh giá như thế nào về hướng phát triển này?
Trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, sông Hồng được xác định là trục phát triển xanh, biểu tượng mới của Thủ đô. Thành phố cũng chủ trương xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm phát triển trên cơ sở bảo tồn các giá trị văn hóa.
Quá trình hình thành và phát triển của Thủ đô mang đậm dấu ấn nền văn hóa lúa nước với vị trí là nơi hội tụ của ba con sông lớn là sông Hồng, sông Đuống và sông Tô Lịch. Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ đầu tư xây dựng, phát triển đô thị hài hòa hai bên sông Hồng. Tháng 12/2024, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065, trong đó xác định chiến lược quy hoạch tổng thể với tư duy đột phá, đổi mới trong tổ chức không gian và chức năng đô thị dọc tuyến sông Hồng, phát triển thành phố theo định hướng quay mặt ra sông, tạo điểm nhấn chiến lược, khẳng định tầm vóc Thủ đô.
Phối cảnh dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Việc triển khai thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là phù hợp với định hướng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng đô thị trung tâm Thủ đô, phù hợp với tinh thần các Nghị quyết của Bộ Chính trị. Thành phố Hà Nội cũng đã khẩn trương triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng như Dự án Khu đô thị thể thao Olympic, xây dựng các cầu bắc qua sông Hồng,… Theo tôi, đây là các dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần phát triển Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước hướng tới mục tiêu tạo nên “Kỳ tích sông Hồng”, đánh dấu một kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc ngay trên chính cái nôi của nền văn minh sông Hồng.
Theo ông, nhìn từ góc độ bảo tồn di sản khảo cổ, Hà Nội cần làm gì để có thể phát huy tốt giá trị của di sản trong quá trình hiện thực hóa “khát vọng sông Hồng”?
Nhìn từ góc độ bảo tồn di sản khảo cổ học, trước tiên, chúng ta cần có các chương trình điều tra cơ bản, thiết lập bản đồ chi tiết các di tích khảo cổ học tiền sử, sơ sử và lịch sử trên địa bàn toàn thành phố, đặc biệt là đôi bờ sông Hồng. Một số di tích tiêu biểu cần được khai quật, thám sát, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa của chúng trong bức tranh chung di sản của Thủ đô, của đất nước. Cần thiết lập một mạng lưới thông tin kỹ thuật số trong quản lý các di tích này.
Hà Nội cần đầu tư kinh phí chấn hưng văn hóa cho các di tích khảo cổ một cách hợp lý, nhất là các di tích khảo cổ học trong lòng đất. Với các di tích này cần thiết lựa chọn khai quật, nghiên cứu có hệ thống, đi liền với bảo tồn tại chỗ, gắn với du lịch trải nghiệm, liên kết các chuỗi các di tích, các đại diện tiêu biểu, điển hình cho một giai đoạn văn hóa cổ xưa của Thủ đô.
Nhà bảo tàng gốm sứ Kim Lan do người dân làng gốm sứ Kim Lan đồng lòng giữ gìn
Việc bảo tồn và khai thác di sản khảo cổ Thủ đô chắc chắn không thể chỉ có các nhà chuyên môn, mà cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương, sự đồng thuận của người dân sở tại và sự tham gia của các doanh nghiệp, cùng đồng hành chia xẻ nhiệm vụ này. Trong các nhân tố ấy, sự đồng thuận và tham gia tự giác của người dân, theo tôi là yếu tố quan trọng nhất, đúng với tinh thần bảo vệ di sản của UNESCO đã khởi xướng.
Trở lại với khát vọng sông Hồng, theo tôi, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức giá trị di sản khảo cổ cho người dân, giúp họ hiểu và đồng thuận với chủ trương và tạo cho họ được hưởng lợi chính đáng từ kỳ tích sông Hồng, có như vậy người dân mới tham gia tự nguyện và sáng tạo ra các hình thức bảo vệ phù hợp, khai thác bền vững.
Theo danh mục các khu vực, di tích, di sản, công trình cần tập trung nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa... được ban hành trong Nghị quyết số 24/NQ-HĐND của HĐND Thành phố ngày 29/4/2025, Hà Nội hiện có hàng nghìn di tích đã được kiểm kê, trong đó gồm 1 di sản thế giới, 22 di tích được công nhận di tích Quốc gia đặc biệt, 1.164 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 1.600 di tích đã được xếp hạng cấp Thành phố, cùng các hệ thống bảo tàng, các lễ hội truyền thống, di sản phi vật thể, làng nghề... Đây thực sự là một kho tàng di sản văn hóa vô giá, một tiềm năng lớn để khai thác phát triển kinh tế di sản trong kỷ nguyên số, gắn liền với Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Di sản văn hóa Hà Nội nói chung và đôi bờ sông Hồng nói riêng là kết tinh của trí tuệ, bản sắc và tinh thần dân tộc. Mỗi di tích, di vật, lễ hội hay làng nghề ở đây từ tiền sử đến lịch sử đều hàm chứa trong đó những câu chuyện sâu lắng về cội nguồn, về khát vọng sáng tạo và sức sống trường tồn của cả cộng đồng. Lâu nay, nguồn di sản này thường chỉ để ngưỡng vọng và lưu giữ cẩn trọng trong các bảo tàng địa phương. Ngày nay, các di sản ấy đã được xác lập một vị trí mới trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức và công nghệ số, được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược cho phát triển bền vững, một “tài nguyên mềm” mang lại giá trị gia tăng cao cho kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, của Thủ đô, của Quốc gia, dân tộc.
Xin cảm ơn ông!
Hoàng Lan
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/ky-tich-song-hong-danh-dau-ky-nguyen-moi-vuon-minh-cua-dan-toc-ngay-tren-chinh-cai-noi-cua-nen-van-minh-song-hong-734341.html