CCB Trần Bình Yên giản dị giữa đời thường
Theo chỉ dẫn, chúng tôi tìm về ngôi nhà giản dị của CCB Trần Bình Yên, ở phường Tam Chúc, tỉnh Ninh Bình. Ngôi nhà có một khoảng sân rộng, treo đầy những hình ảnh về những người đồng chí, đồng đội trong Lữ đoàn tăng 203, thuộc Quân đoàn 2. CCB Trần Bình Yên tuy tuổi đã cao, nhưng còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và minh mẫn.
Nhắc nhớ về ngày 30/4/1975 lịch sử, Binh nhất Trần Bình Yên, người lái chiếc xe tăng T54B mang số hiệu 846 năm nào không khỏi xúc động, tự hào. Năm đó, theo lệnh của chỉ huy, Binh nhất Trần Bình Yên hành quân vòng từ Quảng Trị, qua đường 9 Nam Lào ngược vào tập kết tại Đồng Nai. Tại đây, nhận lệnh chỉ huy Lữ đoàn, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 do anh Nguyễn Quang Hòa là Đại đội phó chỉ huy, cùng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1 do anh Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng chỉ huy tiến hành sáp nhập, thọc sâu tấn công đánh chiếm dinh Độc Lập. 17h30 ngày 26/4/1975, bộ đội ta hiệp đồng tấn công căn cứ Nước Trong và Trường Sỹ quan thiết giáp của địch tại Đồng Nai. Đây là tuyến phòng thủ của địch phía Đông Sài Gòn.
CCB Trần Bình Yên hồi tưởng: Ngày 28/4/1975, khi Lữ đoàn xe tăng 203 của chúng tôi tiến vào căn cứ Nước Trong thì bị hỏa lực địch bắn trả dữ dội vào đội hình. Xe của anh Lê Duy Ứng bị một viên đạn xuyên qua nòng pháo, anh Ứng bị thương nặng, mù cả 2 mắt. Anh Lê Duy Ứng và anh Bùi Quang Thận sau này được phong tặng Anh hùng LLVTND. Chúng tôi nghe tin mà vui cho hai anh, những hi sinh, mất mát của các anh thật đáng khâm phục.
Đến tận trưa ngày 29/4, Lữ đoàn tăng 203 và lực lượng bộ binh Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 hoàn toàn giải phóng tuyến phòng thủ này. Mờ sáng ngày 30/4, từ vị trí cầu Sông Buông (Biên Hòa), bộ đội ta hợp đồng vượt qua cầu Rạch Chiếc và cầu Sài Gòn, tiến thẳng Dinh Độc Lập. Địch bố trí mai phục, đánh trả gay gắt. Trận đánh trong đô thị Sài Gòn diễn ra ác liệt, bộ đội ta hi sinh nhiều. Mũi thọc sâu của Lữ đoàn tăng có 7 chiếc thì bị bắn cháy 3 chiếc.
Dẫn đầu đội hình là xe tăng mang số hiệu 843 do đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cổng phụ dinh Độc Lập nhưng chết máy; ngay lập tức xe tăng 390 do chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy lao lên húc đổ cổng chính. Chiếc xe tăng mang số hiệu 846 gồm Đại đội phó Nguyễn quang Hòa làm trưởng xe; Pháo thủ số 1 Nguyễn Ngọc Quý; Pháo thủ số 2 Nguyễn Bá Tứ và lái xe Trần Bình Yên cầm lái bám sát đội hình, lao thẳng vào sân Dinh Độc Lập. Lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, non sông liền một dải.
Ngôi nhà của CCB Trần Bình Yên trở thành nơi gặp gỡ của những người đồng chí, đồng đội cũ (Ảnh nhân vật cung cấp)
CCB Trần Bình Yên (người đứng thứ nhất hàng trên, bên phải ảnh) gặp gỡ những đồng chí, đồng đội xưa. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Mặc dù trận chiến tiến vào Dinh Độc Lập vô cùng quyết liệt, khiến đồng chí đồng đội mình hi sinh cũng nhiều, nhưng ấn tượng đọng lại trong tâm trí người lính trẻ chính là sự chào đón nồng nhiệt của người dân Sài Gòn khi quân giải phóng tiến vào. Ông xúc động kể lại: “Khi chúng tôi hành tiến vào gần đến Sài Gòn thì có một số anh em bộ binh Trung đoàn 9 bám theo, họ ngồi xung quanh thành xe tăng. Người dân Sài Gòn hồi ấy đổ ra đường nhiều lắm. Họ ngạc nhiên trước hình ảnh bộ đội Cụ Hồ, khác hoàn toàn với những gì chính quyền ngụy tuyên truyền. Chúng tôi cũng bảo nhau, khi vào Sài Gòn thì một cây kim, sợi chỉ của bà con cũng không được động chạm. Càng tiến vào gần Dinh Độc Lập, nhân dân cầm hoa, cầm cờ ra vẫy chào bộ đội trong niềm vui hòa bình, thống nhất đất nước.”
Sau thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, CCB Trần Bình Yên tiếp tục tham gia quân ngũ, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia rồi xuất ngũ, trở về quê hương và lập gia đình. Thời đó, vùng đất Ba Sao quê ông vốn là nơi giáp ranh với tỉnh Hòa Bình (cũ), có địa hình rừng núi, dân cư thưa thớt, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn nhiều phức tạp, ông tham gia lực lượng công an xã, rồi được bà con tín nhiệm bầu làm trưởng thôn. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được các cấp ủy, chính quyền và nhân dân tin tưởng.
Những năm trước đây, các đồng đội của ông trên chiếc xe tăng mang số hiệu 846 vẫn thường quy tụ về căn nhà nhỏ đó để ôn lại những kỷ niệm xưa. Nhưng giờ đây, đồng đội ông người mất, người yếu nên những cuộc hội ngộ cũng thưa dần.
Mỗi lần nhắc về đồng chí, đồng đội của mình, người CCB không khỏi bùi ngùi: “Sau chiến tranh, chúng tôi được sống trở về đã là may mắn lắm, may mắn hơn những anh em đồng chí, đồng đội phải nằm lại nơi chiến trường. Trên kíp lái chiếc xe tăng 846 của chúng tôi, giờ cũng chỉ còn hai người. Nghĩ đến những hi sinh, mất mát của đồng chí, đồng đội mình, tôi luôn tự hứa phải có trách nhiệm hơn đối với gia đình, với xã hội và với những người đã khuất...”.
CCB Trần Bình Yên cùng đồng đội.
Được gặp gỡ, tiếp xúc, được nghe những câu chuyện về những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng anh dũng, kiên cường của những người lính năm xưa, chúng tôi thấy xúc động, tự hào, khi bản thân được sinh ra trong thời bình. “…Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước…”. Những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ “Đất nước” văng vẳng trong tâm trí tôi trên đường về.
Trong dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975- 30/4/2026), chứng kiến đất nước ta đang vươn mình mạnh mẽ, tiến vào kỷ nguyên mới với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, thay cho lời kết, xin kính chúc CCB Trần Bình Yên nói riêng cùng hàng vạn CCB trên cả nước nói chung thật mạnh khỏe, hạnh phúc và xin nghiêng mình trước những công lao, đóng góp của các CCB cho đất nước ngày hôm nay.
Trần Lâm