Người mở đường giữa mưa bom
Ông Nguyễn Văn Năm, sinh năm 1943, nhập ngũ năm 1963, là người tham gia lực lượng công binh, góp phần làm nên đường Trường Sơn, tuyến vận tải chiến lược mang tên Đường 559.
Ông Nguyễn Văn Năm (ngoài cùng bên trái) cùng các đồng đội nhớ lại những ngày tháng đi qua bom đạn. Ảnh: TH
Đường 559, hay còn gọi là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh, được thành lập ngày 19-5-1959 theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Tên gọi “559” bắt nguồn từ chính thời điểm lịch sử ấy: Tháng 5 năm 1959.
Đây không chỉ là một con đường, mà là hệ thống giao thông quân sự khổng lồ xuyên dãy Trường Sơn.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, hàng triệu tấn vũ khí, lương thực, thuốc men cùng lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã vượt tuyến đường này để vào Nam chiến đấu. Dù bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt, tuyến đường Trường Sơn vẫn không bị cắt đứt, trở thành biểu tượng của ý chí, bản lĩnh và sức mạnh Việt Nam.
Nhắc lại những năm tháng ấy, ông Năm vẫn nhớ rõ từng quả bom từ trường, từng đoạn đường phải mở xuyên núi, bạt rừng: “Ngày ấy làm đường hoàn toàn bằng tay. Chưa có máy móc, chưa có bộc phá như sau này. Cuốc núi, mở đèo, phát cây, làm ngày làm đêm, miễn sao xe vào được chiến trường”. Nguy hiểm nhất là xử lý bom từ trường và bom lá, những loại bom khiến bộ đội công binh luôn đối mặt với cái chết cận kề.
Thời gian đầu, chưa ai hiểu rõ nguyên lý hoạt động của bom từ trường nên thương vong rất lớn. Có những chiến sĩ chỉ vì đeo đồng hồ, mang súng trên người mà bom phát nổ. Từ thực tế chiến đấu, bộ đội công binh dần nghĩ ra cách dùng vật kim loại làm “mồi nhử”: Buộc dây dài vào thanh sắt, miếng sắt, thậm chí tận dụng cả khẩu súng cũ rồi kéo đi trước hàng chục mét để kích hoạt cảm ứng từ, làm bom nổ từ xa. Với người lính công binh, điều quan trọng nhất vẫn là giữ cho tuyến đường luôn thông suốt. “Chậm một ngày là chiến trường phía Nam thiếu đạn, thiếu gạo. Vào chiến trường rồi thì chỉ nghĩ đơn giản thế thôi”, ông Năm bộc bạch.
Suốt gần 15 năm làm công binh, nhiều lần cận kề cái chết, nhiều lần bị thương, nhưng điều khiến ông tự hào nhất vẫn là được góp phần mở nên con đường huyền thoại của dân tộc - con đường mà mỗi mét đất đều thấm mồ hôi, máu và tuổi xuân của biết bao người lính Trường Sơn.
Nuôi quân giỏi giữa "chảo lửa" chiến trường
Nếu người lính công binh mở đường cho đoàn quân tiến vào Nam, thì ở một mặt trận khác, người lính hậu cần lại âm thầm giữ cho bộ đội đủ sức bám trụ giữa chiến trường. Với ông Nguyễn Văn Nhã (sinh năm 1940), cuộc chiến không chỉ là tiếng súng hay những trận đánh ác liệt, mà còn là cuộc chiến chống lại cái đói, cái rét và sự thiếu thốn.
Ông Nguyễn Văn Nhã, trợ lý hậu cần từng được tuyên dương "nuôi quân giỏi". Ảnh: TH
Ông Nhã nhập ngũ năm 1967. Những ngày đầu trong quân ngũ, ông làm anh nuôi, trực tiếp chăm lo bữa ăn cho bộ đội. Sau đó, ông được điều sang làm trợ lý hậu cần tiểu đoàn, công việc gắn bó với ông suốt những năm tháng chiến tranh. Đơn vị của ông thuộc Trung đoàn 42, Sư đoàn 7, lực lượng chủ lực chiến đấu rất kiên cường tại chiến trường miền Đông. “Làm công tác hậu cần, cái nghề phải khéo mới nuôi được quân”, ông Nhã chia sẻ.
Nhiệm vụ của ông không chỉ là quản lý gạo, thực phẩm mà còn phải tìm nguồn cung, nắm địa bàn, tổ chức mua lương thực để bảo đảm đời sống cho bộ đội giữa vùng chiến sự. Mỗi khi đơn vị chuyển đến địa bàn mới, việc đầu tiên là tìm hiểu phong tục, cách thức giao thương với người dân bản địa.
Ông từng được đơn vị tuyên dương là một trong những người “nuôi quân giỏi”. Bí quyết, theo ông, không nằm ở điều gì lớn lao, mà ở sự nhạy bén và thấu hiểu. “Thời chiến, cái gì cũng thiếu, nhưng nếu mình biết cách thì thực phẩm lại rất rẻ. Có khi mua được cá khô, cá mòi, có khi mua cả thịt trâu, bò. Thậm chí phải tận dụng cả nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ để cải thiện bữa ăn cho anh em”, ông trải lòng.
Ký ức sâu đậm nhất của ông là những ngày bám trụ tại xã Tân Phú Trung (Củ Chi) vào tháng 10-1972, giai đoạn nước rút trước thềm Hiệp định Paris. Đây là địa bàn chiến lược nằm trên trục Quốc lộ 22, gần căn cứ của Sư đoàn 25 của lính ngụy, nơi thường xuyên diễn ra các trận đánh bám trụ, giữ đất của bộ đội ta. Dù là trợ lý hậu cần, ông vẫn cùng đơn vị bám trụ giữa chiến trường. Trong túi vẫn giữ tiền để lo lương thực cho đơn vị, nhưng khi chiến sự xảy ra, hậu cần cũng chính là người lính.
Đơn vị ông khi đó chỉ có 142 người nhưng phải bám rất sát địch, khoảng cách chỉ vài trăm mét. Các chiến sĩ di chuyển dưới sình lầy, nhiều lưỡi câu, vô cùng vất vả. Trận ấy, vì hỏa lực địch quá mạnh, chênh lệch lực lượng lớn, đơn vị ông Nhã thương vong rất nhiều. Sau trận chiến, chỉ còn lại 11 người sống sót, bản thân ông bị thương ở đầu. Khi rút khỏi trận địa, những người còn sống buộc phải tản ra, tìm cách ẩn nấp để tránh sự truy quét của địch.
“Có những lúc chúng tôi phải nằm im giữa ruộng lạc, bụi tre, từ sáng đến chiều không dám cử động. Quân địch đi lại chỉ cách vài mét. Chỉ cần một tiếng động nhỏ thôi là có thể bị phát hiện. Giờ nghĩ lại vẫn thấy những giờ phút ấy ngắn ngủi mà dài vô tận, đúng nghĩa ngàn cân treo sợi tóc”, giọng ông Nhã chùng xuống.
Với ông, làm hậu cần không phải đứng phía sau chiến tranh, mà là một phần của chiến tranh. Thành tích lớn nhất không phải giấy khen hay huân chương, mà là giữ cho bộ đội đủ sức chiến đấu, đủ sức đi tiếp giữa những năm tháng khốc liệt nhất.
Pháo thủ số 3 và những đêm không ngủ nơi vùng B
Ở chiến trường Quảng Đà, ông Đinh Văn Bần (sinh năm 1949) lại mang theo một ký ức khác: Những đêm áp sát trận địa, những lần vác đế cối nặng trĩu trên vai và những trận đánh mà sự sống, cái chết chỉ cách nhau vài chục mét. Ông nhập ngũ ngày 22-4-1968, là chiến sĩ Trung đoàn 38, Đại đội 12, pháo thủ số 3 của khẩu cối 82 ly.
Ông Đinh Văn Bần kể lại những ký ức về một thời làm lính pháo thủ. Ảnh: TH
Gia đình khi ấy đã có anh trai đang tại ngũ nên theo tiêu chuẩn, ông thuộc diện được tạm hoãn nhập ngũ. Nhưng với lòng yêu nước và khí thế tuổi trẻ thời chiến, ông đã tự viết đơn tình nguyện xin ra trận. “Tôi nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, chỉ nghĩ phải xung phong đi chiến trường để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, ông Bần nhớ lại.
Là pháo thủ của khẩu cối 82 ly - một loại hỏa lực cơ động nhưng vô cùng nặng nề, nhiệm vụ của ông và đồng đội chủ yếu là ban đêm bí mật áp sát các cứ điểm Mỹ - ngụy ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà, bắn pháo rồi rút thật nhanh trước khi đối phương kịp phản ứng.
Mỗi lần đi đánh địch, cả khẩu đội lại chia nhau vác từng bộ phận của khẩu cối. Người mang nòng pháo nặng gần 20kg, người vác chân pháo hơn 20kg, còn ông chuyên mang đế cối nặng khoảng 15kg. Ngoài ra còn có người mang đạn, khẩu đội trưởng và trung đội trưởng đi cùng. “Nặng lắm, nhưng thanh niên lúc ấy chỉ biết đi thôi, không ai nghĩ đến mệt”, ông Bần cười hiền.
Tất cả phải bí mật hành quân trong đêm, men theo đường dân quân du kích dẫn vào sát trận địa. Có những trận địa chỉ cách địch khoảng 80m, xa nhất cũng chỉ khoảng 500m. Khoảng 9-10 giờ đêm là bắt đầu di chuyển. Đến nơi, cả đơn vị lập tức đào hầm, sâu vừa đủ đặt khẩu cối xuống rồi đo tọa độ mục tiêu. Chỉ trong khoảng 20 phút, cả khẩu đội phải hoàn thành công sự, đặt pháo, lắp đạn và sẵn sàng chiến đấu. Khi có lệnh, cả tổ phối hợp nhịp nhàng: Người giữ chân pháo, người tiếp đạn, người chỉnh hướng, người khai hỏa.
“Mỗi trận chỉ bắn khoảng 30 đến 35 quả là phải rút ngay. Nếu chậm, pháo địch hoặc trực thăng tới thì coi như không còn đường sống”, ông nhấn mạnh. Điều ông nhớ nhất là những đêm nhìn thấy điện ở cứ điểm địch vụt tắt sau loạt pháo đầu tiên. “Thấy điện tắt là biết mình bắn trúng rồi. Vui lắm. Nhưng chỉ vài phút sau là trực thăng, pháo sáng kéo đến, cả đơn vị phải lập tức rút lui”, ông Bần tiếp lời.
Giữa bom đạn, điều đau lòng nhất vẫn là sự mất mát của đồng đội. Trong số những người cùng quê xã Vĩnh Ngọc (nay thuộc xã Vĩnh Thanh) lên đường nhập ngũ năm ấy, nhiều người đã hy sinh, có người trở về rồi cũng sớm qua đời. “Giờ nhớ lại, nhiều người chỉ còn trong ký ức. Có những người đi cùng mình ngày ấy, bây giờ chỉ còn tên trên bia mộ”, ông trầm giọng.
Năm 1970, trong một trận chiến đấu kéo dài ba ngày, ông bị bom napalm tạt trúng, lửa cháy từ phần hông xuống chân khiến cơ thể bỏng nặng. Ông được đưa về tuyến sau điều trị tại quân y C19, sau đó không còn đủ sức khỏe để tiếp tục chiến đấu và ra quân cuối năm 1970. Trên cơ thể ông đến nay vẫn còn những vết sẹo chiến tranh. Nhưng điều còn đậm sâu hơn cả là cảm giác được sống trọn vẹn với lý tưởng của tuổi trẻ. “Ngày ấy ai cũng nghĩ đơn giản thôi: Còn sống thì còn chiến đấu. Được góp sức cho đất nước là điều tự hào nhất”, ông Bần khép lại câu chuyện.
Thảo Hương