Đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phượng Hoàng
Trong căn nhà nhỏ nằm tĩnh lặng tại phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cựu chiến binh (CCB) Lê Thuận Kha - nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực thuộc Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đón chúng tôi bằng nụ cười đôn hậu của một người lính đã đi qua bao dặm trường của chiến tranh. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, đôi mắt ông vẫn sáng lên lạ thường khi nhắc về trận đánh đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phượng Hoàng - một điểm nút chiến lược quan trọng, mở toang cửa ngõ từ đại ngàn Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển.
Ngược dòng thời gian về mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 10 khi đó là một trong những đơn vị chủ lực tinh nhuệ nhất tham gia Chiến dịch Tây Nguyên. Với bề dày truyền thống và bản lĩnh trận mạc, đơn vị được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Thắng lợi vang dội tại đây đã tạo ra bước ngoặt quyết định, đẩy quân địch vào thế tháo chạy hỗn loạn, vỡ vụn từ bên trong.
Sau khi lực lượng của ta hoàn toàn làm chủ Buôn Ma Thuột và giải phóng Khánh Dương, quân địch rơi vào trạng thái hoảng loạn cực độ. Để ngăn chặn đà tiến công như vũ bão của quân giải phóng theo đường 21 (nay là Quốc lộ 26) từ Tây Nguyên xuống đồng bằng, địch vội vã “đổ” Lữ đoàn dù số 3 - lực lượng dự bị chiến lược được mệnh danh là “thiên thần sát thủ”, cùng nhiều đơn vị hỗ trợ nhằm thiết lập một tuyến phòng thủ cực kỳ kiên cố.
Cựu chiến binh Lê Thuận Kha kể về những ngày chiến đấu đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phường Hoàng.
Địa điểm được chọn là đèo Phượng Hoàng, nằm giữa ranh giới Đắk Lắk và Khánh Hòa, một vùng đất vốn nổi tiếng với địa hình quanh co, hiểm trở và dốc đứng. Tại đây, dựa vào địa thế núi cao, quân địch bố trí trận địa hỏa lực mạnh, lập sở chỉ huy và các cụm pháo binh, xe tăng ở những điểm cao có tầm quan sát rộng. Chúng ngông cuồng gọi đây là “lá chắn thép” bất khả xâm phạm nhằm khóa chặt con đường xuống duyên hải miền Trung của bộ đội ta.
Trước tình hình đó, Sư đoàn 10 nhận được mệnh lệnh: “Bằng mọi giá phải đập tan tuyến phòng thủ này để giải phóng tỉnh Khánh Hòa”. Hiểu rằng việc đánh trực diện lên các cao điểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tổn thất xương máu, nên chỉ huy đơn vị đã quyết định áp dụng chiến thuật đánh bao vây, chia cắt.
Các cánh quân bộ binh của ta đã kiên trì băng rừng, lội suối, âm thầm vòng leo lên các đỉnh núi cao để đánh tạt sườn, chia cắt đội hình quân địch. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp khủng khiếp, khiến quân địch hoang mang, lo sợ.
CCB Lê Thuận Kha nhớ lại, từ đêm 29-3 đến rạng sáng 1-4-1975, pháo binh của ta bắt đầu nã đạn dồn dập vào các trận địa của địch. Những đòn đánh chính xác và mãnh liệt khiến quân địch rối loạn, buộc phải bỏ vị trí rút chạy. Tuy nhiên, quân ta đã lường trước được các hướng rút lui của chúng để tổ chức chặn đánh. Trung đoàn 24 đã tổ chức phục kích tại cầu Suối Chình (xã Tây Ninh Hòa) khi chúng rút chạy về hướng Ninh Hòa, trong khi Tiểu đoàn 8 liên tục truy kích đám tàn quân chạy ngược về hướng Buôn Ma Thuột, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch. Sau 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, Sư đoàn 10 đã xóa sổ hoàn toàn Lữ đoàn dù số 3, đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phượng Hoàng.
Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Thành phấn khởi về những thành tựu của tỉnh Khánh Hòa sau ngày giải phóng.
Thần tốc tiến về Nha Trang
Chớp thời cơ vàng, ngay trong sáng 1-4-1975, quân ta thừa thắng xông lên chiếm đóng Trung tâm huấn luyện Lam Sơn, căn cứ biệt kích Dục Mỹ và giải phóng hoàn toàn huyện Ninh Hòa. Sau khi làm chủ Ninh Hòa, không để quân địch có thời gian kịp hoàn hồn hay tái lập phòng tuyến, Sư đoàn 10 nhanh chóng tổ chức lực lượng đột phá bằng binh chủng hợp thành.
Một hình ảnh vô cùng xúc động và đáng nhớ trong những ngày ấy chính là tinh thần yêu nước của nhân dân địa phương. Ngoài các xe cơ giới có sẵn của đơn vị, bộ đội ta còn mượn thêm xe của dân để chở quân thần tốc theo Quốc lộ 1 tiến thẳng vào Nha Trang.
Tin tức về việc tuyến phòng thủ đèo Phượng Hoàng sụp đổ như một đòn giáng chí mạng vào tinh thần quân địch đang cố thủ tại Nha Trang. Cả một bộ máy chính quyền và quân đội địch tại đây lâm vào cảnh hỗn loạn, tìm mọi đường tháo chạy.
Đến 17 giờ ngày 2-4-1975, sau khi quét sạch các chốt chặn cuối cùng của địch tại đèo Rọ Tượng và đèo Rù Rì, lực lượng binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 đã rầm rộ vượt qua cầu Xóm Bóng, tiến vào trung tâm giải phóng Nha Trang trong sự hân hoan tột độ của người dân địa phương.
Đại tá Nguyễn Văn Thành - nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa, người từng có 10 năm chiến đấu tại chiến trường Nha Trang- Khánh Hòa bồi hồi nhớ lại: “Khi ấy, với vai trò là Trợ lý tác chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, tôi cùng đồng đội dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đã phát động toàn bộ lực lượng phối hợp với các đơn vị chủ lực và cơ sở cách mạng nội đô, đồng loạt nổi dậy giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa”.
Sau khi vào thị xã Nha Trang, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã lập Sở chỉ huy trên đường Nguyễn Thiện Thuật để trực tiếp chỉ đạo tiêu diệt những tên địch còn ngoan cố. Công tác củng cố lực lượng, xây dựng cơ sở cách mạng và tuần tra bảo vệ các mục tiêu quan trọng được triển khai ngay lập tức.
“Hình ảnh Nha Trang ngày ấy rực rỡ sắc đỏ của cờ Mặt trận treo trước mỗi hiên nhà. Người dân đổ ra đường với niềm xúc động khôn xiết, tự tay may cờ và tặng những bó hoa tươi thắm nhất cho các chiến sĩ,” Đại tá Thành xúc động nhớ lại.
Thắng lợi tại Nha Trang chưa phải là điểm dừng chân cuối cùng. Ngay sau đó, ngày 3-4-1975, Sư đoàn 10 tiếp tục tiến quân giải phóng Cam Ranh và Khu liên hợp quân sự Cam Ranh. Sau đó, đơn vị tiến vào phía nam giải phóng sân bay Thành Sơn trước khi tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Cựu chiến binh Nguyễn Trọng Nghĩa (ngồi giữa) trò chuyện cùng với cán bộ Hội Cựu chiến binh phường Đô Vinh (Khánh Hòa) về những ngày tháng Tư lịch sử.
Góp phần mở cánh cửa giải phóng Sài Gòn
Trong dòng hồi ức của CCB Nguyễn Trọng Nghĩa (78 tuổi) - nguyên Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 311, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận, những ngày đầu tháng 4-1975 thật sự là những ngày rực lửa. Khi đó, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội Đặc công 311, đánh chặn các toán tàn quân từ Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 về Phan Rang.
Trận đánh đêm 2-4-1975 tại khu vực Sông Mỹ là một minh chứng cho sự khốc liệt. Quân địch điên cuồng dùng pháo 105 ly bắn phá để mở đường máu tháo chạy, nhưng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương. Trong trận này, ông Nghĩa bị thương nặng ở đầu. Nhưng với ý chí thép, chỉ vài ngày sau khi vết thương chưa kịp lành, ông đã rời căn cứ Bác Ái xuống xóm Dừa để tiếp tục họp bàn kế hoạch tác chiến, quyết tâm giải phóng quê hương.
Cuộc chiến tại Phan Rang diễn ra vô cùng giằng co. Đêm 7-4-1975, lực lượng Đặc công 311, Biệt động 314 cùng các đội vũ trang, du kích đã được ta giác ngộ, đồng loạt tấn công vào các mục tiêu trọng yếu như trại Nguyễn Hoàng, ga Tháp Chàm, cầu Mống. Suốt 2 ngày đêm sau đó, chiến sự diễn ra cực kỳ căng thẳng. Các chiến sĩ của ta đã kiên cường đánh lui 16 đợt phản kích của địch tại khu vực Tháp Chàm dưới sự đùm bọc của nhân dân.
Sáng 14-4-1975, tiếng pháo công kích rền vang trùm khói lửa lên các điểm chốt của địch từ Bà Râu đến sân bay Thành Sơn. Đến sáng ngày 16-4-1975, thời khắc lịch sử đã điểm. CCB Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn nhớ như in khoảnh khắc từ núi Cà Đú, ông sử dụng ống nhòm quan sát và phát hiện một đoàn quân có xe tăng dẫn đầu đang tiến dọc Quốc lộ 1 hướng về Phan Rang.
Bằng kinh nghiệm của mình, ông nhận định ngay đó là lực lượng chủ lực của ta từ Nha Trang tiến vào. Ngay lập tức, ông tập hợp đơn vị, chủ động bắt liên lạc và phối hợp đánh thốc vào sườn quân địch đang tháo chạy, đồng thời dẫn đường cho quân ta tiến đánh thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn và cảng Ninh Chữ.
Đúng 9 giờ 30 phút ngày 16-4-1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Tòa hành chính tỉnh Ninh Thuận. Phan Rang - Tháp Chàm chính thức được giải phóng.
Hòa chung niềm vui ấy là những giọt nước mắt hạnh phúc của những người du kích như ông Nguyễn Văn Bé (phường Đô Vinh). Ông vẫn không thể quên được không khí ngày chiến thắng khi người dân đứng kín hai bên đường 21 tháng 8, tay cầm cờ nồng nhiệt chào đón quân giải phóng. “Ngày hôm ấy, người dân Phan Rang - Tháp Chàm vỡ òa trong niềm vui, phấn khởi khi quê hương được giải phóng” - ông Bé nhớ lại với ánh mắt lấp lánh.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những người lính năm xưa giờ tóc đã bạc trắng, nhưng ký ức về những ngày tháng Tư rực lửa vẫn luôn là một phần lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đó là bài học vô giá về lòng yêu nước, về tinh thần đoàn kết quân dân và ý chí quyết chiến quyết thắng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình để tiếp tục nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
MAI ĐÔNG - LÂM ANH