Thiếu tướng Nguyễn Văn Trình, ở phường Vạn Xuân, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1.
Luôn sống có trách nhiệm với đất nước, quê hương
Những năm tháng tuổi trẻ, tôi đã trải qua nhiều trận chiến ác liệt. Trong đó, trận đánh tại Điểm cao 638, núi Cây Rui, thị xã An Khê để lại nhiều ký ức sâu sắc, vừa đau đớn vừa tự hào. Năm 1972, đơn vị tôi, Tiểu đoàn 12, Sư đoàn 3, Quân khu 5, được giao nhiệm vụ cắt đứt đường 19, tuyến tiếp viện quan trọng của địch, đồng thời phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, kìm chân lực lượng Nam Triều Tiên, không cho rút về ứng cứu Bắc Bình Định.
Chúng tôi chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắn rơi máy bay, phá hủy nhiều phương tiện quân sự. Tuy vậy, không ít đồng đội đã ngã xuống, máu hòa vào đất mẹ, để lại nỗi đau lặng lẽ trong lòng những người còn sống.
Ngày đất nước toàn thắng, tôi cũng như bao người lính tham gia kháng chiến chống Mỹ, vui mừng và xúc động. Ký ức chiến tranh mãi là niềm tự hào, đồng thời nhắc nhở tôi sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước.
Tự hào khi được cầm súng bảo vệ đất nước
Ông Đinh Văn Tỵ, phường Phan Đình Phùng.
Dù là con trai một trong gia đình và được miễn nghĩa vụ quân sự, tình yêu quê hương, đất nước đã thôi thúc tôi viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Năm 1973, ở tuổi 20, tôi trở thành người lính, được biên chế vào Lữ đoàn 299, Quân khu 1.
Cuối năm 1974, tôi cùng đồng đội hành quân xuyên rừng Trường Sơn sang chiến trường Lào, rồi đến cuối tháng 3-1975 lại tiếp tục trở về truy kích địch qua các địa bàn Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, Đồng Nai. Những trận chiến khốc liệt khiến chúng tôi không khỏi xót xa khi chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống.
Vì thế, khi nghe tin chiến thắng, niềm vui như vỡ òa. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về ngày đại thắng vẫn vẹn nguyên. Ngày 30/4/1975, trên đường hành quân từ Bình Dương về Sài Gòn, đơn vị chúng tôi dừng lại trong niềm hân hoan. Hai bên đường, người dân vẫy cờ đỏ sao vàng, chạy đến ôm chầm lấy bộ đội như người thân xa cách lâu ngày.
Đến hôm nay, tôi vẫn luôn tự hào vì đã được cầm súng bảo vệ Tổ quốc trong những năm tháng cam go nhất.
Ký ức ngày ấy sẽ theo tôi mãi mãi
Ông Nguyễn Hồng Quân, xã Tân Cương.
Năm 1972, khi vừa tròn 24 tuổi, tôi tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Đó là giai đoạn ác liệt nhất, đặc biệt trong 81 ngày đêm từ 28/6 đến 16/9/1972, khi nơi đây trở thành “tọa độ lửa”, hứng chịu khối lượng bom đạn khủng khiếp.
Cùng đồng đội chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt, tôi nhiều lần nghĩ mình khó có ngày trở về. Có những người vừa còn trò chuyện, chỉ ít phút sau đã hy sinh, để lại nỗi đau không thể nguôi. Nước mắt rơi xuống không chỉ là tiếc thương, mà còn thôi thúc chúng tôi tiếp tục chiến đấu, giữ vững trận địa.
Ngày miền Nam giải phóng, đất nước liền một dải, niềm vui vỡ òa trong từng người lính. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau giữa những tiếng hò reo. Sau những tháng ngày gian khổ, cảm giác được bước đi trong hòa bình, được cất cao tiếng hô “Hồ Chí Minh” thật thiêng liêng. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh người dân đón bộ đội trên đường hành quân, tay bắt mặt mừng như người thân trở về. Ký ức ấy theo tôi suốt cuộc đời.
Ngày đại thắng, nước mắt tôi đã rơi vì hạnh phúc
Ông Tạ Xuân Tựu, phường Phan Đình Phùng.
Năm 1970, khi mới 21 tuổi, tôi rời quê hương Phổ Yên lên đường nhập ngũ, được biên chế vào Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 219, Quân đoàn 2. Trải qua Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, tôi cùng đồng đội bước vào những trận chiến khốc liệt. Trong quá trình mở đường chiến thuật, rà phá bom mìn để bảo đảm cho các mũi tiến công, nhiều đồng đội đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Đi qua mưa bom, bão đạn, những người lính càng thêm trân trọng và tự hào về truyền thống của dân tộc. Đến nay, tôi vẫn nhớ như in thời khắc đất nước toàn thắng. Sáng 30/4/1975, khi đang cùng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ cầu Đồng Nai, chúng tôi nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua loa phát thanh. Cảm xúc khi ấy dâng trào, nước mắt không kìm được. Chiến tranh kết thúc, đất nước được giải phóng, nhân dân từ đây thoát khỏi cảnh lầm than.
Hòa bình lập lại, tôi chuyển ngành, công tác trong lĩnh vực địa chính và nghỉ hưu năm 2009. Trong suốt những năm tháng sau chiến tranh, tôi luôn tự nhắc mình sống và làm việc trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, để xứng đáng với sự hy sinh của đồng đội năm xưa.
Đi qua chiến tranh có đau thương nhưng rất đỗi tự hào
Ông Dương Mạnh Việt, xã Đại Phúc.
Tôi nhập ngũ từ năm 1968, chủ yếu làm nhiệm vụ chiến đấu, giúp nước bạn Lào bảo vệ nền độc lập. Cuối năm 1974, tôi cùng đơn vị trở về nước, tham gia giải phóng miền Nam. Được biên chế vào Sư đoàn 316, đóng quân tại Tân Kỳ (Nghệ An), tháng 1-1975, chúng tôi bí mật cơ động áp sát Buôn Ma Thuột, chờ lệnh.
Đầu tháng 3-1975, Chiến dịch Tây Nguyên mở màn, đơn vị tôi tham gia tiến công trên nhiều hướng. Đến ngày 18/3/1975, Buôn Ma Thuột được giải phóng, góp phần làm nên thắng lợi quan trọng của chiến dịch. Trong chiến công ấy có sự hy sinh của nhiều đồng đội quả cảm, để lại niềm tiếc thương sâu sắc.
Ngày 30/4/1975, được tận mắt chứng kiến niềm vui của quân và dân trong thời khắc lịch sử, tôi vô cùng xúc động. Đi qua chiến tranh với nhiều mất mát, đau thương, trong tôi vẫn đan xen niềm tự hào và hạnh phúc. Khi ấy, tôi chỉ mong đất nước hòa bình, người lính được trở về quê hương xây dựng cuộc sống mới, những đồng đội đã ngã xuống được tìm kiếm, quy tập về với đất mẹ.
Tùng Lâm (Thực hiện)