Những năm tháng không quên
Tôi từng là một sĩ quan trẻ tham gia nhóm đầu tiên của lực lượng Hungary thuộc Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát (ICCS) giai đoạn 1973-1975 tại miền Nam Việt Nam.
TS. Botz László gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính trong chuyến công tác tại Budapest, làm việc với Hội Hữu nghị Hungary-Việt Nam vào ngày 19/1/2024. (Ảnh TGCC)
Ngày 27/1/1973, tôi đặt chân tới Sài Gòn. Ba tháng đầu nhiệm kỳ, tôi công tác tại Bộ Tư lệnh Khu vực 3 đặt ở Pleiku trên vùng đất Tây Nguyên.
Từ tháng 5 đến tháng 10, tôi làm việc tại Bộ Tham mưu ở Sài Gòn. Do tính chất công việc, tôi hầu như đã đi khắp miền Nam Việt Nam và tận mắt chứng kiến sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh.
Tôi đã thấy những thành phố, làng mạc bị bom đạn san phẳng; thấy cuộc sống vô cùng khốn khó của người dân Việt Nam ở Sài Gòn và còn thê thảm hơn nữa ở vùng nông thôn, trong những ngôi làng bị thiêu rụi, nơi mà ngay cả những điều kiện sống tối thiểu cũng khó có thể bảo đảm.
Nhưng đồng thời, tôi cảm nhận sâu sắc ý chí sống mãnh liệt, khát vọng tự do cháy bỏng và tinh thần sẵn sàng hành động phi thường của người dân Việt Nam, những điều đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong trái tim tôi.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ đó. Trong thời gian ấy, tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới, làm việc nhiều năm ở Tây Âu và Hoa Kỳ, có cơ hội hiểu biết cái gọi là “thế giới phát triển”. Song song với điều đó, từ năm 2009, tôi cũng may mắn được nhiều lần trở lại thăm Việt Nam; chuyến đi gần nhất chỉ mới cách đây chưa đầy một năm.
Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thật sự làm tôi choáng ngợp. Con đường mà đất nước đã đi qua trong những năm qua có lẽ không ngoa khi gọi là chưa từng có tiền lệ. Một cuộc đổi mới và hiện đại hóa toàn diện về hạ tầng đang diễn ra. Không chỉ trong quy hoạch đô thị hay giao thông, mà trong mọi lĩnh vực của đời sống, ta đều có thể cảm nhận rõ điều đó.
Điều tôi đặc biệt coi trọng là việc các thế hệ lãnh đạo luôn thực hiện chính sách phát triển cân bằng. Không chỉ các đô thị, các khu vực du lịch trọng điểm hay các trục giao thông chính được đầu tư với tốc độ chóng mặt, mà các vùng nông thôn cũng có những bước tiến đáng kể. Những thành tựu rõ nét trong giáo dục và y tế được cảm nhận trên khắp cả nước.
Tất cả những điều ấy đã làm thay đổi căn bản và nâng cao mức sống của người dân, góp phần tạo nên sự bùng nổ dân số, đưa dân số Việt Nam ngày nay vượt mốc 100 triệu người. Điều này không thể xảy ra nếu người dân không cảm nhận được sự ổn định xã hội, an ninh, sự cải thiện vững chắc của mức sống và niềm tin vào một tương lai phát triển bền vững.
Có thể khẳng định rằng, không chỉ riêng cá nhân tôi mà toàn thể các thành viên Hội Hữu nghị Hungary-Việt Nam đều dành sự ngưỡng mộ sâu sắc trước những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được. Xin gửi tới đất nước và nhân dân Việt Nam lời chúc mừng chân thành nhất từ đáy lòng mình.
Con đường phù hợp nhất cho đất nước
Theo quan điểm của tôi, trong suốt 50 năm qua, lãnh đạo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam luôn tìm ra con đường phù hợp nhất cho đất nước.
Việc kiên định thực hiện những định hướng phát triển do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đã dẫn tới sự phát triển kỳ diệu ngày nay, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, đồng thời giữ gìn và củng cố nền độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mơ ước.
Tôi tin tưởng rằng Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự minh triết như các kỳ đại hội trước, sẽ đánh giá chặng đường đã qua, phân tích tình hình chính trị thế giới đầy biến động hiện nay, rút ra những kết luận đúng đắn, từ đó xác định các mục tiêu và nhiệm vụ trung và dài hạn, cũng như lựa chọn những nhà lãnh đạo phù hợp nhất để thực hiện các mục tiêu đó.
Trong bối cảnh quan hệ quốc tế bất định như hiện nay, việc dự báo tương lai phát triển của Việt Nam là điều không dễ. Tuy nhiên, khi nhìn lại 50 năm phát triển thần tốc vừa qua, tôi vô cùng lạc quan và kỳ vọng Việt Nam tiếp tục có những bước tiến mạnh mẽ về kinh tế-xã hội.
Tác giả (ở giữa) cùng các nhân viên ICCS thuộc đoàn Ba Lan chụp ảnh cùng lực lượng quân nhân Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ở Bến Hét, Kon Tum vào năm 1973. (Ảnh TGCC)
Việt Nam sở hữu tiềm năng kinh tế to lớn trong lĩnh vực du lịch. Ngành này đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới và đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia. Việt Nam đang đi đúng hướng, và tôi tin rằng trong tương lai, việc phát triển hạ tầng du lịch vẫn sẽ được đặt ở vị trí ưu tiên.
Đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu-phát triển là vô cùng quan trọng. Về tri thức và năng lực khoa học-kỹ thuật, Việt Nam có nguồn lực khổng lồ; lĩnh vực này chắc chắn cần tiếp tục được ưu tiên hàng đầu.
Cũng cần làm nhiều hơn nữa để hạn chế ô nhiễm môi trường. Những nỗ lực tích cực đã xuất hiện, song điều cốt yếu là phải kiên trì và nhất quán trong thực hiện. Trong đó bao gồm cả việc bảo đảm nước uống an toàn và giải quyết bài toán xử lý nước thải.
Một trong những vấn đề cấp bách nhất hiện nay là biến đổi khí hậu và những hệ lụy ngày càng nặng nề đối với Việt Nam, như bão nhiệt đới và mực nước biển dâng. Để ngăn ngừa các thiệt hại từ đó, cần có những biện pháp ưu tiên ngay trong ngắn hạn.
Tôi tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam sẽ tiếp tục nằm trong số những quốc gia phát triển thần tốc nhất thế giới trong tương lai.
Triển vọng quan hệ hợp tác Việt Nam-Hungary
Về triển vọng quan hệ và hợp tác giữa Việt Nam và Hungary, chúng ta có thể dựa trên nền tảng hữu nghị đã được xây dựng từ những năm 1950. Trong bối cảnh hiện nay, Hiệp định Đối tác Chiến lược Toàn diện ký kết từ năm 2018 chính là điểm xuất phát quan trọng.
Tại các kỳ họp của Ủy ban Hỗn hợp Kinh tế, những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm luôn được xác định rõ ràng, tạo nên khuôn khổ đầy hứa hẹn cho sự phát triển năng động của quan hệ song phương. Điều này đã thể hiện bằng những kết quả cụ thể trong kim ngạch thương mại hằng năm.
Tuy nhiên, khoảng cách địa lý xa xôi và cơ cấu kinh tế tương đối giống nhau của hai nước phần nào cũng làm chậm lại sự tăng trưởng thương mại (cả hai đều mong muốn thu hút đầu tư và vốn).
Dẫu vậy, vẫn tồn tại nhiều lĩnh vực hợp tác rất triển vọng: Hungary sở hữu những công nghệ xuất sắc, có thể được ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam trong giải quyết các vấn đề về nước sạch và xử lý nước thải; Hợp tác trong lĩnh vực y tế, nghiên cứu và phát triển dược phẩm cũng rất giàu tiềm năng.
Đặc biệt đáng nhấn mạnh là chính sách học bổng của Hungary những năm gần đây ưu tiên và hỗ trợ mạnh mẽ sinh viên Việt Nam theo học bậc đại học và sau đại học tại Hungary (mỗi năm Hungary nhận khoảng 200 sinh viên Việt Nam sang du học).
Tôi nhìn thấy những cơ hội to lớn trong hợp tác khoa học-công nghệ và nghiên cứu; kỳ vọng có những bước tiến nhanh chóng và hiệu quả, mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia.
Tôi muốn nhấn mạnh vai trò của cộng đồng người Việt đang sinh sống tại Hungary trong quan hệ hai nước. Đây là một cộng đồng đáng kể, đóng vai trò vô cùng tích cực tại các khu dân cư nơi họ sinh sống.
Họ đã và đang tạo dựng được niềm tin của người dân Hungary; sự sẵn lòng giúp đỡ, khả năng hòa nhập và tinh thần lao động chăm chỉ của họ được xã hội Hungary hết sức trân trọng. Tôi tin chắc rằng cộng đồng này sẽ ngày càng lớn mạnh và trở thành động lực thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày càng gắn bó.
Hội Hữu nghị Hungary-Việt Nam mà nơi tôi là thành viên từ năm 1975 và giữ cương vị Chủ tịch từ năm 2007, trong khả năng của mình sẽ tiếp tục nỗ lực hết sức để thúc đẩy sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia, hai dân tộc.
Chúng tôi duy trì mối quan hệ rất chặt chẽ với Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary, Hiệp hội Người Việt Nam tại Hungary và Hội Hữu nghị Việt Nam-Hungary tại Việt Nam, cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển các mối quan hệ hữu nghị ấy.
Tác giả chụp ảnh với bác sĩ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại khu trại của ICCS ở Bến Hét, Kon Tum vào năm 1973. (Ảnh TGCC)
TS. Botz László là một quân nhân cao cấp người Hungary, mang quân hàm Thượng tướng, từng giữ các cương vị trọng yếu trong Quân đội Hungary như Cục trưởng Cục Quân báo. Hiện ông là Chủ tịch Hội Hữu nghị Hungary-Việt Nam và giữ vai trò nổi bật trong việc kết nối nhân dân hai nước.
Ngay vào thời điểm Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, ông đã có mặt tại Sài Gòn trên cương vị thành viên Phái đoàn Hungary trong Ủy ban Kiểm soát và Giám sát Quốc tế (ICCS), một cơ quan quốc tế có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra và ngăn chặn vi phạm thỏa thuận đình chiến; đồng thời thu thập tư liệu và báo cáo tình hình thực tế tại miền Nam Việt Nam.
Theo chia sẻ của TS. Botz László, ấn tượng sâu sắc khi lần đầu tới Hà Nội, nhìn cảnh tàn phá sau các đợt bom B-52 của Mỹ, không phải là tàn tích chiến tranh, mà là nụ cười và niềm tin vào hòa bình của người dân Việt Nam. Ông giữ trong lòng cảm xúc ấy, để trở thành người bạn thủy chung, cầu nối vững chắc giữa nhân dân hai nước.
Giữ cương vị Chủ tịch Hội Hữu nghị Hungary-Việt Nam từ năm 2007, TS. Botz László đã góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam tại Hungary và củng cố hợp tác song phương, bằng việc tổ chức và tham gia nhiều diễn đàn, nhiều hoạt động giao lưu đa dạng về văn hóa, giáo dục, ngoại giao, trao đổi địa phương và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam tại Hungary.
Trên tư cách một nhà nghiên cứu, học giả về quân sự, ông có nhiều bài viết, tư liệu lịch sử, hồ sơ quý báu về miền Nam Việt Nam thời kỳ hậu Hiệp định Paris (1973-1975). Đầu năm 2025, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị, phần thưởng cao quý dành cho người ngoại quốc có đóng góp đặc biệt cho quan hệ Việt Nam và nước ngoài.
TS. Botz László