Lãi suất huy động tiếp tục phân hóa ở các kỳ hạn trung và dài hạn. Ảnh minh họa
Theo biểu lãi suất được công bố, mức lãi suất huy động cao nhất trong nhóm khảo sát hiện thuộc về Shinhan Bank, với 7,5%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 12 tháng. Ngân hàng này cũng áp dụng mức 7%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 7,1%/năm cho kỳ hạn 18 tháng và 6,6%/năm cho kỳ hạn 24 tháng.
Trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhiều đơn vị duy trì lãi suất từ 6%/năm trở lên ở các kỳ hạn dài. MB Bank niêm yết lãi suất từ 3,7%/năm ở kỳ hạn 1 tháng đến 7%/năm ở kỳ hạn 24 tháng. LPBank áp dụng mức từ 4,3% đến 6,6%/năm, trong khi OCB và PGBank cùng niêm yết lãi suất tối đa 6,8%/năm.
Một số ngân hàng khác cũng duy trì mức lãi suất cạnh tranh như Bac A Bank với mức cao nhất 6,9%/năm ở kỳ hạn 12 tháng; BVBank đạt 6,65%/năm; VIB và Vietbank cùng niêm yết tới 6,5%/năm; SHB đạt 6,4%/năm; VPBank, NCB và VietABank cùng có mức cao nhất từ 6,1%/năm trở lên.
Ở nhóm ngân hàng có vốn nhà nước, lãi suất tiếp tục duy trì ở mức thấp hơn mặt bằng chung. Agribank áp dụng lãi suất không kỳ hạn 0,2%/năm, kỳ hạn 1 tháng 2,6%/năm, 3 tháng 2,9%/năm, 6 và 9 tháng 4%/năm, trong khi kỳ hạn 12 và 18 tháng đạt 5,9%/năm, kỳ hạn 24 tháng 6%/năm.
Tương tự, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết lãi suất không kỳ hạn 0,1%/năm; kỳ hạn 1 tháng 2,1%/năm; 3 tháng 2,4%/năm; 6 và 9 tháng 3,5%/năm; kỳ hạn 12 tháng 5,9%/năm và 24 tháng 6%/năm.
Ở nhóm còn lại, ACB áp dụng lãi suất từ 4% đến 5,4%/năm; MSB từ 3,6% đến 5,3%/năm; ABBANK từ 3,6% đến 6,05%/năm; Kienlongbank từ 3,5% đến 5,5%/năm; SeABank từ 3,95% đến 5,75%/năm.
TPBank từ 4,2% đến 5,9%/năm; HDBank từ 3,5% đến 5,5%/năm; Sacombank từ 4,5% đến 6,7%/năm; Eximbank từ 3,5% đến 5%/năm; BAOVIET Bank từ 3,9% đến 5,8%/năm; còn Nam A Bank niêm yết đồng mức 4%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 24 tháng.
Khảo sát cho thấy lãi suất không kỳ hạn thấp nhất hiện ở mức 0,05%/năm tại MB Bank, trong khi phần lớn ngân hàng vẫn tập trung cạnh tranh nguồn vốn ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên với lãi suất phổ biến trong khoảng 6-7%/năm.
Vũ Đậu