Nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ tiếp tục áp dụng mức lãi suất cao để tăng khả năng cạnh tranh huy động vốn trên thị trường. (Ảnh minh họa).
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại các ngân hàng cho thấy, mặt bằng lãi suất hiện dao động khá rộng, từ mức thấp nhất 0,05%/năm đến mức cao nhất 7,5%/năm tùy từng kỳ hạn và chính sách của từng nhà băng.
Trong nhóm ngân hàng niêm yết mức cao nhất, Shinhan Bank đang áp dụng mức 7,5%/năm tại một kỳ hạn trong bảng công bố, bên cạnh các mức 7%, 7,1% và 6,6%/năm ở các kỳ hạn khác. MB Bank cũng ghi nhận mức cao tới 7,2%/năm, trong khi Bac A Bank niêm yết quanh vùng 6,75% - 6,9%/năm.
Nhiều ngân hàng tư nhân duy trì lãi suất trên 6%/năm ở các kỳ hạn dài. LPBank niêm yết từ 6,2% - 6,6%/năm ở các kỳ hạn cuối bảng; OCB dao động 6,4% - 6,8%/năm; PGBank từ 6,6% - 6,8%/năm; BVBank từ 6,45% - 6,65%/năm; Sacombank phổ biến quanh 6,1% - 6,8%/năm.
Một số ngân hàng khác cũng áp dụng mức lãi suất tương đối cạnh tranh như VPBank với vùng 5,9% - 6,1%/năm; SHB từ 5,8% - 6,4%/năm; Vietbank từ 6% - 6,5%/năm; VietABank từ 5,8% - 6,1%/năm; VIB từ 5,5% - 6,5%/năm.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, mặt bằng lãi suất thấp hơn đáng kể. Agribank niêm yết 0,2% ở kỳ hạn ngắn nhất, tăng lên 5,9% - 6%/năm ở các kỳ hạn dài hơn. BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 0,1% ở kỳ hạn đầu bảng; các mức tiếp theo phổ biến quanh 2,1% - 3,5%, trước khi tăng lên 5,9% - 6%/năm tại các kỳ hạn dài.
Trong khi đó, nhiều ngân hàng giữ mặt bằng trung bình quanh 4% - 5,8%/năm như ACB, BAOVIET Bank, SeABank, HDBank, Eximbank và MSB. Nam A Bank gây chú ý khi đồng loạt niêm yết mức 4%/năm ở toàn bộ các kỳ hạn xuất hiện trong bảng.
Vũ Đậu