Lãi suất huy động và cho vay đồng loạt tăng
Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn chủ chốt, đưa mặt bằng lãi suất tiền gửi VND lên mức cao mới.
Lãi suất tăng là mối lo của cả doanh nghiệp và ngân hàng. Ảnh T.Hải
Ba ngân hàng thương mại Nhà nước trên đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi diễn ra trong bối cảnh cuộc đua tăng lãi suất huy động diễn ra sôi động ngay sau Tết Nguyên đán. Trong số các ngân hàng công bố tăng lãi suất từ đầu tháng 3 đến nay, có sự góp mặt của nhiều ngân hàng lớn như MB, Techcombank, Sacombank, SHB... Hầu hết nhà băng cập nhật biểu lãi tiền gửi tăng 1-2% so với cuối năm ngoái. Hiện mức lãi suất 8 - 8,5%/năm không còn hiếm trên thị trường.
Việc nâng lãi suất huy động là để giữ chân khách hàng trong bối cảnh dư nợ tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn diễn ra suốt thời gian dài. Bên cạnh đó, các kênh đầu tư khác như vàng, bạc, chứng khoán... thời gian qua hấp dẫn hơn, tỷ giá lại nhích lên tạo sức ép đáng kể cho kênh tiết kiệm. Nâng lãi suất nhằm cải thiện cơ cấu nguồn vốn, đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản và chuẩn bị dư địa cho hoạt động cho vay trong các quý tiếp theo.
Lãi suất huy động tăng kéo lãi suất cho vay tăng. Hiện nay, lãi suất vay đầu tư bất động sản (BĐS), mua nhà... tại nhiều ngân hàng đã lên 12–14%/năm, thậm chí lãi suất thả nổi có nơi chạm 15%/năm sau thời gian ưu đãi.
Không chỉ lĩnh vực BĐS, chị N.T.T. nhân viên tín dụng của một ngân hàng cổ phần tại Hà Nội cho biết: “Sau Tết Nguyên đán, lãi suất cho vay tăng mạnh. Hiện nay, lãi suất cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh kỳ hạn 6 tháng đã lên 8,2%/năm, 3 tháng là 8%/năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay tiêu dùng, mua đất, mua nhà… đã lên 13-14%/năm cố định trong 2 năm đầu”.
“3 tháng trước, tôi vay vốn ngân hàng đầu tư kinh doanh với lãi suất 6%/năm và hiện lãi suất đã tăng lên 8%/năm, khiến phát sinh gần 10 triệu đồng tiền lãi. Thị trường sau Tết ảm đạm, sức bán kém, trong khi lãi suất cao nên người kinh doanh như tôi gặp khó khăn”- chị Nguyễn Thị Hoa hộ kinh doanh ở phường Đống Đa lo ngại.
Bài toán cho chính sách tiền tệ
Lãi suất tăng không chỉ khiến người vay lo lắng khó tiếp cận vốn, kinh doanh trì trệ. Trong khi phía ngân hàng e ngại rủi ro nợ xấu gia tăng và biên lợi nhuận (NIM) bị thu hẹp do chi phí huy động vốn đầu vào tăng. Mối lo này càng lớn khi các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để cạnh tranh thu hút vốn, dẫn đến áp lực trả nợ lớn hơn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.
Chia sẻ từ một lãnh đạo ngân hàng, áp lực lãi suất vẫn còn. Ngoài yếu tố chi phí vốn, biến động của thị trường tài chính quốc tế cũng có thể ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ và mặt bằng lãi suất trong nước.
Dù vậy, các chuyên gia nhận định, lãi suất cao hiện nay mang tính thời điểm. Bức tranh trung hạn không phải toàn xám, mặt bằng lãi suất có thể dần được nới lỏng từ quý II năm 2026 trở đi khi các mục tiêu kiểm soát lạm phát được bảo đảm.
Tại buổi đối thoại "Triển vọng kinh tế Việt Nam và chiến lược đầu tư năm 2026" vừa diễn ra, ông Suan Teck Kin, Giám đốc khối nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu của ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% trong năm 2026.
“Kịch bản cơ sở của chúng tôi giả định giá dầu Brent có thể tăng lên khoảng 90 USD/thùng trong quý II-2026 trước khi giảm về quanh 80 USD/thùng vào cuối năm 2026. Trong kịch bản này, tác động lên lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam được đánh giá ở mức vừa phải”, ông Suan Teck Kin nhận định.
Còn theo TS Lê Xuân Nghĩa, việc lãi suất cho vay tăng nhẹ hiện nay chưa phản ánh một sự đảo chiều chính sách tiền tệ. Điều hành lãi suất luôn là bài toán cân bằng giữa ổn định vĩ mô và hỗ trợ nền kinh tế. Trong bối cảnh lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát và tăng trưởng cần được hỗ trợ, chính sách tiền tệ nhiều khả năng tiếp tục theo hướng thận trọng, linh hoạt, tránh những cú sốc làm tổn thương nền kinh tế.
Thay vì tăng lãi suất điều hành, Ngân hàng Nhà nước có xu hướng điều tiết linh hoạt thông qua nghiệp vụ thị trường mở, mua - bán trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn để bơm hoặc hút tiền ngắn hạn. Điều này giúp kiểm soát thanh khoản mà không gây cú sốc lãi suất.
Ông Nghĩa cho rằng, trong bối cảnh chi phí vốn tăng và môi trường kinh tế quốc tế còn nhiều bất định, lãi suất cho vay tại Việt Nam nhiều khả năng sẽ chỉ tăng nhẹ và có sự phân hóa giữa các nhóm tín dụng. Ngân hàng Nhà nước vẫn đang yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng vào lĩnh vực "tiềm ẩn rủi ro", định hướng dòng vốn sang sản xuất kinh doanh và các động lực tăng trưởng ưu tiên. Các ngân hàng lớn với nguồn vốn giá rẻ và quy mô khách hàng lớn có thể duy trì mức lãi suất thấp hơn. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ hơn có thể phải áp dụng mức lãi suất cao hơn để bù đắp chi phí vốn và rủi ro tín dụng.
Trâm Anh