Di tích Điện Lam Kinh. Nguồn: bvhttdl.
Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, quê hương của Lê Lợi (1385-1433), là nơi nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh (1418-1428).
Sách Đại Nam nhất thống chí chép: Lam Kinh nhà Lê ở phía đông núi Lam Sơn tại xã Quảng Thi huyện Thụy Nguyên. Phía nam trông ra sông Lương, phía bắc gối vào núi, là đất dựng cơ nghiệp của Lê Thái Tổ.
Thăng Long - Đông Kinh, Lam Kinh - Tây Kinh
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ), lập nên vương triều Hậu Lê, đóng đô ở Thăng Long (Đông Kinh), mở ra thời kỳ phát triển mới cho quốc gia Đại Việt. Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi tên vùng đất Lam Sơn thành Lam Kinh (Tây Kinh). Kể từ đó, các kiến trúc điện, miếu... cũng bắt đầu được xây dựng tại đây, gắn với hai chức năng chính: Điểm nghỉ chân của các vua Lê khi về cúng bái tổ tiên, đồng thời, cũng là nơi ở của quan lại và quân lính thường trực trông coi Lam Kinh; Khu tập trung lăng mộ của tổ tiên, các vị vua, hoàng thái hậu nhà Lê và một số quan lại trong hoàng tộc.
Đại Nam nhất thống chí chép: Đầu đời Thuận Thiên lấy đất này đặt làm Tây Kinh, cũng gọi là Lam Kinh, xây dựng cung điện trông ra sông, đằng sau cung điện có hồ lớn, giống hồ Kim Ngưu, các khe núi đổ vào hồ này. Lại có khe nhỏ bắt nguồn từ hồ chảy qua trước điện, ôm vòng lại như hình vòng cung, bắc cầu lợp ngói ở trên khe, đi qua cầu mới đến cung điện. Khoảng đời Cảnh Hưng, nước sông xói mạnh, Ngô (Thì) Sĩ sai dân đóng cừ gỗ và xe đất chở đá để đắp giữ; sau khi nhà Lê mất thì chỗ này bị vỡ lở gần hết, chỉ còn mộ cũ.
Bản dập Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục quyển 15, mặt khắc 33 ghi chép về việc xây điện Lam Kinh. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Năm Quý Sửu (1433), xây điện Lam Kinh. Điện này ở xã Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, phía sau dựa vào núi làm gối, phía trước hướng mặt ra sông.
Năm Giáp Dần (1434), vua Lê Thái Tông cho lập miếu riêng ở Lam Kinh để thờ mẹ của mình là Cung từ quốc thái mẫu.
Năm Mậu Thìn (1448), vua Lê Nhân Tông ra lệnh cho Lê Khả đôn đốc phu và thợ tu sửa đền miếu ở Lam Kinh.
Năm Kỷ Tỵ (1449), niên hiệu Thái Hòa thứ 7, tháng 2, miếu điện ở Lam Kinh làm xong. Sai Hàn lâm thị độc Hoàng Thanh thay Nguyễn Lãm làm lễ tấu cáo.
Năm Bính Tý (1456), vua Lê Nhân Tông đi Lam Kinh bái yết lăng tẩm. Đến Lam Kinh, nhằm ngày rằm, nhà vua đưa các quan đi bái yết sơn lăng, sắm đủ lễ vật để cáo miếu, đánh trống đồng, tấu đại nhạc: hàng võ thì biểu diễn điệu múa “bình Ngô phá trận”, hàng văn thì biểu diễn điệu múa “chư hầu đến chầu”. Cách đó vài ngày, nhà vua ban yến và tặng vật phẩm cho các quan đi hộ giá. Vua cũng căn dặn rằng: Mọi việc ở đền thờ cần phải thành kính, tinh khiết như ngả cây, chặt tre, kiếm củi.
Vua cũng ra lệnh chỉ cho các đại thần bàn định đặt tên hiệu cho các miếu điện ở sơn lăng Lam Sơn. Chánh điện gọi là điện Quang Đức, tiền điện gọi là Sùng Hiếu, hậu điện gọi là Diễn Khánh. Lại sai quân phủ Thanh Hóa làm tẩm cung thờ Thái hoàng thái phi ở phía tây điện lăng Lam Sơn.
Bản dập Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư quyển 11, mặt khắc 91 ghi chép về việc đặt tên hiệu cho các miếu điện ở sơn lăng Lam Sơn. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Nơi an nghỉ của các vua nhà Hậu Lê
Bên cạnh những ghi chép về quá trình xây dựng điện Lam Kinh, sử sách xưa còn cho biết điện Lam Kinh là nơi để các vua nhà Lê hướng tâm linh của mình đến đó.
Năm Thiệu Bình thứ 5 (1438), có nhiều tai dị và điềm gở, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu tự trách mình: Khoảng tháng 4, tháng 5 năm nay, nhiều lần sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh. Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai họa, nhất định là có duyên do trong đó. Có phải do trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ, hay là do quan tể phụ bất tài xếp đặt không hợp? Hay là dùng người không đúng, để người tốt kẻ xấu lẫn lộn? Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái? Hay là làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mỏi mệt? Hay là thuế khóa nặng nề mà dân túng thiếu? Trẫm tự trách tội mình…
Tháng 11, năm Quý Sửu (1433), vua (Lê Thái Tổ) mất, long thể được đưa về Lam Sơn. Tháng 11, mùa đông, an táng vua ở Vĩnh Lăng, miếu hiệu là Thái Tổ.
Năm Mậu Ngọ, Cảnh Thống năm thứ 1 (1498), ngày Giáp Tuất, mồng 8, quan tài của Thánh Tông Thuần Hoàng Đế rước về đến Lam Kinh. Đến ngày Giáp Ngọ, an táng vào bên tả Vĩnh Lăng ở Lam Sơn, gọi là Chiêu Lăng. Trước đó, Lễ quan tâu xin dựng bia, khắc minh để tỏ rõ sự nghiệp của tiên đế cho đời sau. Vua khen lời tâu là phải, sai Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu Thân Nhân Trung, Lễ bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Đông các đại học sĩ Lưu Hưng Hiếu soạn văn bia. Ngày hôm ấy, vua sai nữ quan và nữ sử 10 người đưa linh cữu vào an táng xong rồi ra.
Lam Kinh đã trở thành khu di tích lịch sử cấp quốc gia được công nhận vào năm 1962, sau đó, vào năm 2012, được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Ngày nay, Lam Kinh - nơi ghi dấu nhà Lê tiếp tục được Nhà nước ta quan tâm trùng tu, tôn tạo.
Minh Châu - Nhật Phương