Theo IAV, đây là nghiên cứu do Công ty Nghiên cứu thị trường IFM Research thực hiện với 1.265 người tham gia khảo sát trên toàn quốc, bao gồm Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ, tại cả khu vực thành thị và nông thôn.
Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký IAV cho biết, đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Việt Nam chung tay thực hiện một nghiên cứu độc lập về nhận thức và hành vi của người dân trong lĩnh vực này.
Kết quả nghiên cứu của IFM Research cho thấy, có đến 89% người được khảo sát đánh giá bảo hiểm nhân thọ là thiết yếu trong cuộc sống. Tỷ lệ này đạt 91% ở nhóm đang sở hữu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, 86% ở nhóm chưa sở hữu và 91% ở nhóm từng sở hữu. Đây là một tín hiệu tươi sáng, khẳng định bảo hiểm nhân thọ đã và đang được nhận diện rộng rãi như một giải pháp có vai trò quan trọng trong đời sống tài chính của người dân, không chỉ trong nhóm đã tham gia mà cả ở nhóm chưa sở hữu sản phẩm.
Đồng thời, nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ hiểu biết tương đối tích cực của người tham gia khảo sát về bảo hiểm nhân thọ. Theo đó, 58% người tham gia tự đánh giá mình có mức độ hiểu biết cao về bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ này khá đồng đều giữa các nhóm tuổi: 57% ở nhóm 22-29 tuổi, 59% ở nhóm 30-40 tuổi và 58% ở nhóm trên 40 tuổi.
Tuy nhiên những lý do chính khiến bảo hiểm nhân thọ được xem là cần thiết đều gắn với các nhu cầu rất căn bản của mỗi gia đình: 57% người khảo sát cho rằng bảo hiểm nhân thọ giúp bảo vệ trước rủi ro bệnh tật, tai nạn, tử vong; 45% nhấn mạnh vai trò ổn định tài chính cho gia đình.
Thực tế cho thấy, việc chủ động đưa bảo hiểm nhân thọ vào kế hoạch tài chính vẫn còn một khoảng cách nhất định. Thay vì sử dụng bảo hiểm như một công cụ quản lý rủi ro chủ động, phần lớn người dân vẫn duy trì tư duy tài chính mang tính “phòng vệ”. Khi có biến cố, giải pháp đầu tiên họ nghĩ tới là sử dụng tiền tiết kiệm (67%), cắt giảm chi tiêu (53%) hoặc tìm thêm nguồn thu nhập (39%). Điều này phản ánh thực tế rằng bảo hiểm nhân thọ hiện vẫn được nhìn nhận như một lớp bảo vệ bổ sung, chưa phải là giải pháp cốt lõi trong chiến lược tài chính cá nhân.
Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành IFM Research nhận định: Hành vi tài chính của người dân vẫn mang tính phòng vệ là chủ đạo. Mặc dù nhu cầu và đánh giá tích cực đối với BHNT ở mức cao, tỷ lệ sở hữu thực tế vẫn còn thấp. BHNT hiện chủ yếu được nhìn nhận như một lớp bảo vệ tài chính bổ sung, chưa trở thành công cụ quản lý rủi ro cốt lõi hay giải pháp đầu tư dài hạn.
Nghiên cứu cũng chỉ ra động lực mua BHNT chủ yếu đến từ nhu cầu bảo vệ rủi ro, chi trả chi phí y tế và tiết kiệm an toàn; trong khi yếu tố đầu tư ít quan trọng.
Với những người tham gia BHNT, những tiêu chí quan trọng nhất gồm: mức phí phù hợp, uy tín doanh nghiệp, sản phẩm đáp ứng nhu cầu, mức chi trả hợp lý, quyền lợi minh bạch và quy trình bồi thường nhanh. Ngoài ra, nhóm trẻ còn ưu tiên khả năng duy trì hợp đồng lâu dài, trong khi nhóm có con lại chú trọng phạm vi bảo vệ rộng.
Những rào cản chính kéo dài quyết định mua BHNT của người dân gồm: thời gian đóng phí dài, ưu tiên các kênh tiết kiệm/đầu tư khác, khó khăn tài chính hoặc chưa thấy nhu cầu cấp thiết. Riêng nhóm 22-29 tuổi, thiếu tư vấn phù hợp là trở ngại lớn nhất.
Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ ra áp lực tài chính là nguyên nhân chính dẫn đến việc khó duy trì hợp đồng dài hạn. Mức phí đóng trung bình hiện nay đạt khoảng 1,8 triệu đồng/tháng (22 triệu đồng/năm), được xem là rào cản đáng kể khi thu nhập biến động hoặc khi người dân chưa thấu hiểu rõ giá trị thực nhận so với kỳ vọng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hành vi tài chính của người dân chịu tác động rõ rệt bởi vòng đời. Nhóm dưới 30 tuổi ưu tiên mua tài sản lớn, ổn định chi tiêu và hỗ trợ cha mẹ; nhóm 30-40 tuổi tập trung tích lũy cho con cái và đầu tư dài hạn; trong khi nhóm 41+ chú trọng tiết kiệm hưu trí.
Xuyên suốt các nhóm tuổi, tư duy tài chính mang tính phòng vệ là chủ đạo, với ưu tiên xây quỹ dự phòng và bảo đảm an toàn cho gia đình; đầu tư vẫn đóng vai trò thứ cấp.
Mức độ thành thục trong lập kế hoạch tài chính còn thấp. Có đến 83% người tham gia khảo sát có kế hoạch tài chính, trong đó 46% có cả mục tiêu ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, hầu hết chỉ mới nghĩ đến việc lập kế hoạch tài chính mới đây, sau dịch COVID-19, và ít được rà soát.
“Điều này cho thấy người dân đã bắt đầu hình thành thói quen lập kế hoạch nhưng mức độ ‘thành thục’ chưa cao, từ đó đặt ra các yêu cầu về sự cần thiết phải truyền thông giáo dục người dùng về hoạch định tài chính dài hạn và vai trò của BHNT trong chiến lược dự phòng”, nghiên cứu của nhận định.
Điều đáng chú ý, theo nghiên cứu, nhóm trên 30 tuổi có xu hướng lập kế hoạch tài chính nhiều hơn các nhóm khác. Họ cùng với nhóm có con cũng bắt đầu lập kế hoạch sớm hơn và điều chỉnh thường xuyên hơn, cho thấy mức độ chủ động và kỷ luật tài chính cao hơn.
Về sự khác biệt trong hành vi tài chính của người dân ở các khu vực địa lý khác nhau, báo cáo cho thấy người sống ở thành phố loại 1 có tỷ lệ lập kế hoạch tài chính cao hơn, phản ánh mức độ chủ động và ý thức quản lý tài chính rõ rệt. Tuy vậy, thành phố ở miền Nam lại có xu hướng lập kế hoạch dài hạn hơn và bắt đầu sớm hơn, cho thấy tầm nhìn tài chính dài hơi và tư duy tích lũy rõ nét. Trong khi đó, người dân ở thành phố miền Bắc ghi nhận tỷ lệ chỉ lập kế hoạch ngắn hạn cao hơn, thể hiện cách tiếp cận tài chính thực dụng và chú trọng kiểm soát dòng tiền hằng ngày. Ngược lại, nông thôn miền Trung có tỷ lệ chưa xây dựng kế hoạch tài chính cao nhất, thể hiện thói quen hoạch định tài chính còn hạn chế.
Hương Giang