Ảnh minh họa.
Làn sóng đầu tư mới đang tập trung mạnh vào các lĩnh vực trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và nghiên cứu - phát triển (R&D) – những nền tảng cốt lõi của nền kinh tế số. Hàng loạt dự án quy mô lớn được triển khai hoặc mở rộng tại các địa phương trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Phú Thọ..., cho thấy Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn công nghệ cao trong khu vực.
ĐÓN ĐẦU LÀN SÓNG FDI MỚI
Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã thu hút nhiều dự án công nghệ cao quy mô lớn, phản ánh sự cải thiện về chất lượng dòng vốn FDI cũng như chiến lược lựa chọn các dự án mang lại công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao và hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước.
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài với 15,01 tỷ USD, tăng 44,3% so với cùng kỳ và chiếm hơn 60% tổng vốn đăng ký.
Đáng chú ý, TP. Hồ Chí Minh trong thời gian vừa rồi là một trong những địa phương dẫn đầu xu hướng này. Riêng cuối tháng 4/2026, UBND TP. Hồ Chí Minh đã trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 4 dự án công nghệ cao tại Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh với tổng vốn hơn 1,23 tỷ USD.
Nổi bật trong số đó là hai dự án trung tâm dữ liệu siêu quy mô với tổng vốn gần 1 tỷ USD, gồm Trung tâm dữ liệu Evolution DC VN HCMC (với số vốn đầu tư hơn 508 triệu USD), do liên danh các nhà đầu tư Singapore là Hathor, Frontier và Evolution Data Centres đầu tư, và Tổ hợp trung tâm dữ liệu Starmason (với số vốn hơn 480 triệu USD) do Công ty cổ phần Starmason phát triển.
Cùng với đó, địa phương này cũng ghi nhận sự xuất hiện của các dự án AI quy mô lớn. Vào tháng 3/2026 , liên doanh giữa Công ty Accelerated Infrastructure Capital (AIC), Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) cùng các đối tác quốc tế đã công bố đầu tư dự án trung tâm dữ liệu AI tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung
Với tổng vốn đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD, dự án bao gồm trung tâm dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và hệ thống GPU phục vụ các ứng dụng AI. Trong giai đoạn đầu, dự án sẽ phát triển nhà máy AI có công suất 50 MW, tương đương khoảng 28.000 bộ xử lý đồ họa (GPU), cung cấp năng lực điện toán cho các nhu cầu AI và điện toán hiệu năng cao của khách hàng trong nước và quốc tế.
Không chỉ TP. Hồ Chí Minh, nhiều địa phương khác cũng đang thu hút các dự án công nghệ cao có giá trị lớn. Tại Thái Nguyên, Công ty POSCO Future M thuộc Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) đã đầu tư 282 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất vật liệu cực âm than chì nhân tạo phục vụ ngành pin lithium-ion. Khi đi vào hoạt động, nhà máy dự kiến đạt công suất tối đa 46.000 tấn sản phẩm mỗi năm.
Trong khi đó, tại Phú Thọ, Tập đoàn BYD (Trung Quốc) đã quyết định tăng thêm 479 triệu USD cho Dự án Nhà máy điện tử BYD Việt Nam, nâng tổng vốn đầu tư lên 890 triệu USD. Động thái này cho thấy niềm tin của các tập đoàn công nghệ lớn vào triển vọng phát triển của Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện tử toàn cầu.
SẴN SÀNG VỀ MÔI TRƯỜNG THU HÚT FDI
Theo các chuyên gia, trong giai đoạn tới, chất lượng dòng vốn FDI sẽ trở nên quan trọng hơn quy mô thu hút đơn thuần. Những dự án có hàm lượng công nghệ cao, độ phức tạp lớn trong các lĩnh vực như điện tử, AI, bán dẫn, hạ tầng số và dịch vụ công nghiệp tiên tiến được kỳ vọng sẽ tạo ra giá trị gia tăng dài hạn cho nền kinh tế.
Không chỉ góp phần mở rộng chuỗi cung ứng, các khoản đầu tư này còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động, gia tăng năng lực đổi mới sáng tạo và cải thiện khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với các dự án công nghệ cao, Việt Nam cần nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư. Theo ông Mickaël Driol, Tổng giám đốc Mekong Partners, yếu tố quan trọng không chỉ nằm ở các chính sách ưu đãi mà còn ở tính nhất quán và khả năng thực thi chính sách trên thực tế.
Đặc biệt, việc xây dựng lộ trình rõ ràng về tiếp cận đất đai, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng tiện ích cũng như quy trình phê duyệt dự án sẽ giúp giảm bớt sự bất định và rút ngắn thời gian triển khai đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, quy hoạch năng lượng cần đi trước một bước so với nhu cầu phát triển, đặc biệt trong bối cảnh các dự án trung tâm dữ liệu, AI và sản xuất công nghệ cao đòi hỏi nguồn điện ổn định với quy mô lớn. Điều này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh phát triển năng lượng tái tạo, nâng cấp hệ thống truyền tải điện và bảo đảm nguồn cung năng lượng dài hạn.
Ngoài ra, sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương cũng sẽ trở thành yếu tố then chốt khi ngày càng nhiều tập đoàn đa quốc gia triển khai chiến lược phát triển đa địa điểm tại Việt Nam. Theo ông Driol, trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao không chỉ bằng những cam kết trên giấy tờ, mà bằng khả năng hiện thực hóa các cam kết đó một cách ổn định, hiệu quả và ở quy mô lớn.
“Ở giai đoạn phát triển mới, Việt Nam sẽ cần nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút vốn FDI chất lượng cao không chỉ bằng sự cam kết, mà bằng năng lực hiện thực hóa cam kết đó một cách ổn định và ở quy mô lớn”, ông Driol nhấn mạnh.
Phương Nhi