Nhà văn Hoàng Đạo
Nhìn dọc suốt thế kỷ 20, đàn “ngựa thồ” của xứ Quảng cũng không nhiều. Dựa trên các tự điển văn học và năm sinh ghi trên trang bìa sách, chưa đếm đủ trên mười đầu ngón tay. Thống kê này tất nhiên là không đầy đủ, bởi lẽ nhiều tác giả không khai đúng tuổi, hoặc không muốn công khai tuổi tác của mình.
Chất văn đằm sâu trong từng câu chữ
Mở đầu thế kỷ, nếu không sợ “thấy người sang bắt quàng làm họ” thì có Hoàng Đạo, tuổi Bính Ngọ (1906). Ông sinh ra ở Hải Dương (cũ) nhưng quê gốc ở Hội An.
Lần lại hành trạng cuộc đời của từng thành viên trong gia đình văn chương dòng họ Nguyễn Tường, từ người mẹ Phạm Thị Nguyên đến 7 anh em trong gia đình, trong đó có Hoàng Đạo, đều có nhiều hoạt động không tách rời quê cha đất tổ. Đặc biệt, là từ cách ứng xử trong các hoàn cảnh đời sống và cái chất văn đằm sâu trong từng câu chữ, đều là hồn cốt của văn hóa Quảng Nam.
Hoàng Đạo thành công không chỉ vì quan tâm đến những vấn đề thời sự xã hội nóng bỏng, mà ở ông còn đậm đặc chất liệu văn chương tân văn trong các phóng sự Trước vành móng ngựa (1938), Bùn lầy nước đọng (1938)...
Bên cạnh đó, đối với văn chương nghệ thuật, các tác phẩm như Mười điều tâm niệm (1939), Con đường sáng (1940) của ông đã cắm những cột mốc quan trọng trong dòng chảy văn xuôi trên con đường hiện đại hóa vào những năm ba mươi của thế kỷ 20.
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh
Bậc thầy của nhiều thế hệ trí thức
Tuổi Mậu Ngọ (1918) có “độc mã” là Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn. Quê ông ở Điện Bàn. Ông đến với văn chương từ những năm chống Pháp bằng thể loại truyện ngắn.
Nhưng do suốt đời gắn với sự nghiệp giáo dục, nên đã chuyển sang công tác nghiên cứu lý luận, phê bình. Cũng thời chống Pháp ở Liên khu V ông đã có công trình Việt Nam văn học sử thời Lê mạt - Nguyễn sơ (NXB Tinh tiến, Liên khu V 1951).
Cho đến cuối đời, ông là tác giả của hàng trăm công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam và tập thơ Tinh sương (NXB Trẻ, 2001) là sự gom nhặt tiếng lòng của ông về gia đình, quê hương, đất nước.
Lê Trí Viễn không chỉ là học giả, là nhà khoa học được người cùng giới ngưỡng mộ, mà còn là bậc thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò, trong đó có nhiều trí thức lớn của đất nước như nhà thơ Bùi Giáng, các giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, Phương Lựu, Nguyễn Đức Nam, Bùi Văn Nguyên, Trần Hữu Tá...; có người không chỉ xếp hàng đầu trong nước mà còn cả thế giới như nhà toán học Hoàng Tụy hoặc cả những chính khách như Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Nguyễn Đình Tứ.
Với đóng góp của mình, Lê Trí Viễn được Nhà nước phong hàm Giáo sư (1980), danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1990) và trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (2012).
“Cỗ xe tứ mã” của văn chương xứ Quảng
Tuổi Canh Ngọ (1930) là “cỗ xe tứ mã” với hai tác giả nằm trọn cả tuổi âm và tuổi dương là Phan Tứ và Lưu Trùng Dương, và hai tác giả tuổi âm vẫn cầm tinh con ngựa, nhưng tuổi dương lịch đã bước qua năm 1931, là Tường Linh và Nguyễn Văn Hạnh.
Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, con nhà giáo Lê Ấm và bà Phan Thị Châu Liên, con gái của cụ Phan Châu Trinh. Quê gốc ở Quế Sơn, nhưng Phan Tứ sinh ra ở Quy Nhơn, học ở Quy Nhơn rồi Hội An. Phan Tứ là tác giả của 6 tiểu thuyết (trong đó có tiểu thuyết sử thi nhiều tập Người cùng quê), 4 tập truyện ngắn, 4 tập ký và hàng trăm phóng sự, tiểu luận văn học.
Về thơ, có Lưu Trùng Dương quê ở Hải Châu, Đà Nẵng. Tháng 12/1946 ông đang học chuyên khoa năm cuối, thì cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tham gia đoàn Tuyên truyền xung phong rồi gia nhập quân đội, chiến đấu ở chiến trường Liên khu V, làm báo, làm thơ trong quân đội.
Tuy về cuối đời ông có viết văn xuôi, trong đó có tác phẩm cuối cùng là tiểu thuyết Họ đi tìm thiên đường (1988), viết về những người vượt biên phải trả giá trên biển được bạn đọc chú ý, nhưng thành công chủ yếu của Lưu Trùng Dương là ở thơ. Những bài thơ như Thương nhất anh nuôi, Đôi dép người xung kích, Những người đáng yêu nhất, Giao thừa này Báu ở đâu (tặng Nguyên Ngọc)... mang hơi thở của quê hương, cảm xúc chân thành âm vang suốt một thời kháng chiến.
Nhà thơ Lưu Trùng Dương
Một trong hai người tuổi Canh Ngọ sinh năm 1931 là Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh. Ông quê ở Điện Bàn, là người thầy khả kính của nhiều thế hệ học trò, là nhà lý luận phê bình văn học, nhà lãnh đạo giáo dục và văn nghệ xuất sắc, một trong những người đi đầu trong công cuộc đổi mới văn nghệ vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20.
Là nhà khoa học đầu ngành, ông chủ trì và tham gia biên soạn bộ sách Cơ sở lý luận văn học (4 tập, 1965 - 1971) và là tác giả của 6 công trình khác, có tính dự báo. Điều quan trọng hơn, ông là một trong những nhà khoa học góp phần hình thành và thúc đẩy tiến trình đổi mới của đất nước, trước hết với tư cách là một nhà văn, một công dân, sau đó là trên cương vị một người lãnh đạo văn nghệ.
Người thứ hai tuổi Canh Ngọ sinh năm 1931 là nhà thơ Tường Linh, quê ở Quế Sơn, từ nhỏ đã sống tha hương và cả “một đời thơ” - một cõi thơ ôm trọn cả đời người. Ông là tác giả của 8 tập thơ in riêng và 3 tập in chung (với Thu Bồn, Phan Đắc Lữ, Phạm Doãn Hứa, Hướng Dương).
Có thể nói, bàng bạc trong hàng nghìn bài thơ của Tường Linh là nỗi nhớ về đất và người quê hương xứ Quảng. Chỉ nêu tựa đề hàng trăm bài thơ của ông có thể thấy tâm thức sáng tạo của Tường Linh là một khối kim cương trong suốt, lấp lánh ánh sáng làng quê văn hiến của xứ Quảng, hiếm có thi nhân nào sánh kịp.
Thế hệ viết tiếp tương lai văn học xứ Quảng
Những người xuất hiện đầu thế kỷ 21 khá rời rạc và đứt quãng, vì hầu hết chưa ghi tên mình vào các tự điển hoặc không muốn công khai tuổi tác.
Theo tìm kiếm của chúng tôi, tuổi Nhâm Ngọ (1942) chưa thấy có ai. Tuổi Giáp Ngọ (1954) thấp thoáng có bóng dáng Phạm Lâm, tác giả của tập thơ Con sóng lòng anh (2011) và tập truyện kể có tính chất tân văn Chuyện làng (2020). Tuổi Bính Ngọ (1966) chưa thấy có ai. Tuổi Mậu Ngọ (1978) có cây bút văn xuôi khá ấn tượng Nguyễn Thị Thanh Thảo, tác giả của tập truyện ngắn Rừng núi dang tay (2005) và tập tản văn Mỏng (2020).
Và mới nhất, tuổi Canh Ngọ (1990) “con ngựa đơn độc” Nguyễn Thị Như Hiền với tập truyện ngắn Mưa qua triền rang (2023) khá đậm đà chất liệu mỹ cảm của văn hóa xứ Quảng, hé lộ nhiều triển vọng, như một cơn mưa đầu mùa có tia chớp. Người đọc có quyền kỳ vọng vào những người nắm giữ tương lai văn học của quê nhà.
PHẠM PHÚ PHONG