Làng nghề truyền thống: Mai này còn ai kế nghiệp?

Làng nghề truyền thống: Mai này còn ai kế nghiệp?
một giờ trướcBài gốc
Ảnh minh họa
Nỗi lo mai một của "người kể chuyện bằng tơ sen"
Giữa vùng quê Phùng Xá (xã Hồng Sơn) thanh bình, xưởng dệt của Nghệ nhân ưu tú Phan Thị Thuận lúc nào cũng rộn ràng. Bà đón chúng tôi giữa không gian ngồn ngộn những máy dệt đời cũ, những mảnh lụa đang nhuộm dở, những mẹt tằm cần mẫn nhả tơ…
Phùng Xá những năm 1970-1980 từng là thủ phủ dâu tằm của miền Bắc, tiếng khung cửi vang lên từ đầu làng đến cuối ngõ. Thế nhưng, khi lụa công nghiệp tràn vào, cái nghề "ăn cũng phải đứng" từ hái dâu, nuôi tằm đến quay tơ, dệt vải… dần trở nên quá sức với người làng khi thu nhập chẳng đáng bao nhiêu. Người ta dỡ khung cửi, chặt dâu để làm việc khác. Chỉ riêng bà Thuận vẫn kiên trì bám trụ. Bà đã làm nên điều kỳ diệu khi "huấn luyện" con tằm tự dệt thành tấm chăn tơ, đặc biệt là nghiên cứu thành công cách lấy tơ từ cuống sen để dệt lụa.
Để làm ra một chiếc khăn lụa tơ sen nhỏ bé, quy trình kỳ công đến khó tin. Mùa sen chỉ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, bà Thuận phải lặn lội ra đầm từ sớm tinh mơ để chọn những cuống sen đủ độ già. Cuống sen mang về phải rửa sạch bùn, ngắt sạch gai. Người thợ dùng dao khứa nhẹ quanh thân cuống, khéo léo rút sợi tơ ra rồi ve sợi đều tay trên tấm gỗ. Một chiếc khăn nhỏ cần đến khoảng 4.800 cuống sen. Mỗi ngày, một thợ lành nghề nhất cũng chỉ có thể rút sợi được tối đa 200 cuống. Tổng cộng, phải trải qua 14 công đoạn nghiêm ngặt, từ rút tơ, ve sợi, dệt, luộc nhựa sen đến phơi khô... mất hàng tháng trời mới xong một sản phẩm.
Nghệ nhân Phan Thị Thuận
Những tấm khăn lụa tơ sen của bà Thuận giờ là sản phẩm cao cấp, thường được chọn làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia khi tới thăm Việt Nam. Nhà thiết kế trẻ Nguyễn Khả Hân, người sở hữu một thương hiệu thời trang tại Pháp, đã lặn lội về tận đây chỉ để chiêm ngưỡng thứ lụa quý này. Nhìn Hân nâng niu tấm lụa, bà Thuận hỏi khẽ: "Thích thật à con gái? Thế con có muốn học nghề không, bà dạy?". Cứ ai tìm đến là bà Thuận vui lắm, bà có thể nói cả ngày về lụa. Bà sẵn sàng truyền nghề miễn phí, không giấu bất cứ bí quyết gì.
"Nhưng chẳng mấy ai học đến nơi đến chốn. Có người hào hứng đến thử, chỉ vài ngày thấy vất vả quá, kỳ công quá lại bỏ cuộc. Trải nghiệm vui vui thì nhiều, để chuyên tâm thành nghề thì hiếm lắm. Bà chỉ sợ một mai bà không còn sức ra đầm hái sen nữa thì sợi tơ của Trời ban này ai sẽ là người tiếp nối?".
Đôi tay hiếm hoi giữ nhịp guốc mộc
Rời Phùng Xá, chúng tôi tìm về làng Yên Xá (phường Thanh Liệt), nơi từng là "thủ phủ" của guốc mộc Việt Nam. Làng nay đã đô thị hóa, nhà cao tầng san sát. Phải khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được xưởng của nghệ nhân Trương Công Đức, nằm lọt thỏm giữa một bãi đất trống ngoài cánh đồng. "Trước tôi làm ở nhà, nhưng tiếng cưa, tiếng mài ồn quá, lại thêm bụi mùn cưa và mùi sơn ảnh hưởng đến hàng xóm nên tôi với ông bạn già phải dạt ra đây thuê đất dựng xưởng", ông Đức vừa nói vừa chỉ tay về phía người bạn nghề đang lúi húi xẻ gỗ xoan.
Nghệ nhân Trương Công Đức trong xưởng guốc mộc (người bên phải)
Ông Đức cho biết, nghề làm guốc mộc tưởng đơn giản nhưng lại rất tinh tế. Từ việc chọn gỗ xoan đủ độ khô để không bị nứt, xẻ định hình theo các kích cỡ chân, đến khâu mài nhẵn và phun sơn đều đòi hỏi sự chuẩn xác. Khó nhất là công đoạn đóng quai. Đóng sao cho chiếc vít chắc chắn mà không làm nứt gỗ, sao cho quai ôm khít bàn chân mà vẫn giữ được dáng vẻ thanh thoát. Ông Đức là người duy nhất trong làng còn giữ được kỹ thuật làm guốc cung đình Huế - loại guốc mà cả đế lẫn quai đều được chạm khắc và vẽ hoa văn cầu kỳ.
Những năm gần đây, guốc mộc bỗng dưng "sống lại", được giới trẻ ưu chuộng. Đơn đặt hàng nhiều, ông Đức làm không hết việc, nhưng nét mặt ông vẫn đượm buồn: "Làng sắp mất nghề rồi anh ạ. Nghề này bụi bặm, hại phổi, thu nhập lại không cao. Mấy cậu thanh niên trong làng thấy ông già tôi lụi cụi cả ngày ở xưởng thì bảo là "nhàm chán", chúng nó muốn bay nhảy chứ chẳng ai thích ngồi một chỗ đóng guốc".
Trăn trở của nữ nghệ nhân duy nhất ở làng rèn
Đến làng rèn Đa Sỹ (phường Kiến Hưng), hình ảnh bà Đỗ Thị Tuyến bên lò rèn đỏ lửa khiến chúng tôi không khỏi ấn tượng. Nghề rèn vốn nặng nhọc, độc hại, xưa nay thường mặc định dành cho đàn ông, nhưng bà vẫn miệt mài với tiếng búa quai. Bà là nữ duy nhất trong số hơn chục thợ rèn của làng được công nhận danh hiệu nghệ nhân.
Bà Đỗ Thị Tuyến cùng du khách ngoại quốc trải nghiệm nghề rèn
Bước vào tuổi 60, bà Tuyến có vóc dáng khỏe khoắn, bắp tay cứng cáp và đôi bàn tay chai sạn. "Làm cái nghề này thì không biết đến khái niệm "đẹp" đâu con. Quanh năm áo bảo hộ kín mít, tai nút bông để đỡ tiếng ồn, mặt mũi lúc nào cũng lấm lem. Mùa hè ngồi cạnh lò rèn, mồ hôi đổ ra như tắm, ướt sũng cả bộ đồ lao động dày cộm", bà Tuyến kể.
Nghề rèn Đa Sỹ hiện vẫn sống tốt, nhưng bà Tuyến vẫn đầy âu lo. Các con bà tuy biết nghề nhưng đều chọn đi làm văn phòng. Bà tâm sự: "Lòng mình mâu thuẫn lắm. Một mặt muốn con giữ lấy nghề của cha ông, nhưng mặt khác, nhìn con cháu quần áo đẹp xinh, ngồi phòng máy lạnh thì mình cũng mừng. Làm thợ rèn như bà, suốt đời bám lấy than lửa, lại dễ tai nạn bỏng lửa, đau phổi vì khói than. Mình vất vả rồi, không nỡ ép các cháu phải như mình".
Đôi tai cuối cùng thẩm âm nhạc cụ Đào Xá
Nằm ven sông Nhuệ, làng Đào Xá (xã Ứng Hòa) có truyền thống làm nhạc cụ dân tộc hơn 200 năm. Xưa kia, thợ Đào Xá đi khắp nước, vào tận cung đình Huế để làm đàn cho triều đình. Những người thợ Đào Xá vốn là dân thuần nông, không hề biết nhạc lý nhưng lại có một "đôi tai trời ban" để thẩm âm. Họ làm ra từ đàn bầu, đàn nguyệt, đàn tì bà đến đàn đáy với độ chính xác và chất âm tuyệt hảo.
Anh Đào Văn Tuấn
Sau khi Nghệ nhân quốc gia Đào Xuân Soạn qua đời, con trai ông là anh Đào Văn Tuấn trở thành người duy nhất trong làng còn duy trì xưởng đàn quy mô. Để chế tác một cây đàn chất lượng, người thợ phải am tường về đặc tính của từng loại gỗ và quan trọng nhất là năng lực thẩm âm. Khi cây đàn thành hình, người thợ phải gõ, nghe và căn chỉnh từng li từng tí để tiếng đàn đạt được độ sâu, độ ấm chuẩn xác. Khâu này không trường lớp nào dạy được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm và năng khiếu. "Công đoạn thẩm âm này thực cũng không có gì ghê gớm, nhưng dường như phải có cái duyên, có thiên bẩm, khó nói lắm", anh Tuấn chia sẻ. Có lẽ vì thế mà cả làng giờ chỉ anh theo được nghề.
Anh Tuấn sẵn sàng truyền nghề cho bất cứ ai, kể cả người vùng khác. Đã từng có người vì đam mê tìm đến, nhưng đa phần bỏ cuộc giữa chừng. "Nghề làm đàn đòi hỏi sự tỉ mỉ, phải tĩnh tâm, không vội vàng, người trẻ bây giờ khó mà chịu được", anh nói. Anh lặng lẽ nhìn những cây đàn đang dở dang, không biết mai này khi mình già đi, tiếng đàn Đào Xá có còn vang lên trên mảnh đất này nữa hay không…
Cần giải pháp cho sự tiếp nối
Các nghệ nhân mà chúng tôi gặp giống như những "cuốn từ điển sống" về văn hóa và kỹ nghệ. Họ nắm giữ những bí quyết tinh túy không có trong sách vở. Họ sẵn sàng cho đi nhưng lại thiếu người tiếp nhận.
Để giữ gìn linh hồn làng nghề, nên chăng cần có những chính sách đào tạo bài bản, kết hợp giữa du lịch trải nghiệm và giáo dục di sản cho thế hệ trẻ một cách thực chất. Nếu không, những "người giữ lửa cuối cùng" ấy rồi cũng sẽ mang theo những tinh hoa nghìn đời đi khuất, để lại một khoảng trống mênh mông trong kho tàng văn hóa dân tộc.
Quang Thái
Nguồn Phụ Nữ VN : https://phunuvietnam.vn/lang-nghe-truyen-thong-mai-nay-con-ai-ke-nghiep-238260320175759509.htm