Mô hình “làng trong phố, phố trong làng” chính là một giá trị đặc sắc, thể hiện bản sắc riêng có của Thủ đô.
Cấu trúc đặc thù của đô thị
Trong dòng chảy phát triển đô thị toàn cầu, Hà Nội là một trường hợp đặc biệt. Thủ đô không hình thành từ một vùng đất trống để phát triển nhanh theo hướng hiện đại hóa, mà là kết quả của một quá trình tích tụ lâu dài, nơi “làng” và “phố” đan xen, cùng tồn tại và phát triển.
PGS.TS Bùi Tất Thắng - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cho rằng “làng trong phố, phố trong làng” chính là một giá trị đặc sắc, thể hiện bản sắc riêng có của Thủ đô. “Sự kết hợp hài hòa giữa không gian đặc thù, môi trường văn hóa và môi trường sống đã tạo nên một loại hình đô thị đa dạng, phát triển theo hướng hiện đại, nhưng vẫn mang theo chiều sâu của hàng nghìn năm truyền thống cha ông. Đây chính là yếu tố làm nên sức hấp dẫn và nét riêng biệt của Hà Nội so với nhiều đô thị khác” - ông Thắng nhấn mạnh.
Lịch sử phát triển đô thị trên thế giới diễn ra theo nhiều con đường khác nhau, nhưng Hà Nội lại mang một đặc trưng riêng. Là kinh đô của muôn đời, thành phố hội tụ các yếu tố tự nhiên, địa lý, kinh tế và chính trị, đồng thời là nơi quy tụ nhân tài từ khắp mọi miền đất nước. Chính sự hội tụ này đã hình thành nên mô hình đô thị độc đáo, kết hợp hài hòa giữa làng và phố.
Theo PGS.TS Bùi Tất Thắng, “làng” không đơn thuần là một không gian địa lý mà là một thiết chế xã hội hoàn chỉnh, nơi lưu giữ các giá trị về sinh kế, phong tục, tập quán và đời sống văn hóa cộng đồng. “Phố” cũng không chỉ là không gian vật lý, mà là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, thương mại và hiện đại hóa.
Chính sự đan xen này tạo nên cấu trúc đô thị đặc thù, trong đó các làng nghề truyền thống tồn tại như những “hạt nhân văn hóa” giữa lòng thành phố. Những làng nghề này gắn với sản xuất, lễ hội, tín ngưỡng và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được duy trì qua nhiều thế hệ.
Phân tích rõ hơn, PGS.TS Bùi Tất Thắng cho biết: “Điểm khác biệt của Hà Nội so với nhiều đô thị trên thế giới là không phát triển từ một vùng đất trống để nhanh chóng hiện đại hóa, mà là nơi được lựa chọn làm kinh đô qua nhiều thời kỳ. Chính vì vậy, Hà Nội hội tụ nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên, vị trí địa chính trị, kinh tế và đặc biệt là sự tụ hội của nhân tài từ khắp mọi miền”.
Từ nền tảng đó, cấu trúc “làng - phố” không chỉ là kết quả lịch sử, mà còn là nền tảng cho định hướng phát triển tương lai. Trong quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, mô hình này được xác định là yếu tố then chốt nhằm bảo tồn lõi văn hóa đô thị, đồng thời xây dựng một Hà Nội văn minh, thanh lịch.
Cốt cách ấy, như các chuyên gia nhấn mạnh, không thể hình thành từ những thiết kế thuần túy kỹ thuật, mà phải bắt nguồn từ dòng chảy văn hóa, trong đó văn hóa làng giữ vai trò nền tảng.
Cổng làng Yên Phụ (Hà Nội). Ảnh: Thư Hoàng.
Thách thức từ đô thị hóa nhanh
Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trong những năm gần đây đang đặt cấu trúc “làng trong phố” trước nhiều sức ép. Không gian làng bị thu hẹp, nghề truyền thống mai một, và đặc biệt là sự suy giảm của các mối quan hệ cộng đồng - yếu tố cốt lõi tạo nên “hồn làng”.
Theo TS Lê Thị Thu Hương - Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội), những biến đổi này không chỉ là sự thay đổi về hình thái không gian mà còn là sự chuyển dịch về cấu trúc xã hội: “Nhịp sống đô thị cũng khiến các mối quan hệ gia đình, làng xóm, cộng đồng trở nên lỏng lẻo hơn. Đây không chỉ là câu chuyện của kiến trúc hay không gian sống, mà còn là vấn đề xã hội, liên quan trực tiếp đến "hồn cốt" văn hóa. Cốt lõi của văn hóa làng nằm ở cách ứng xử trong gia đình, dòng họ và khu dân cư, là những nền tảng góp phần hình thành nên người Hà Nội thanh lịch, văn minh”.
Thực tế cho thấy, khi các nghề truyền thống không còn đảm bảo sinh kế, sự đứt gãy trong truyền nối là điều khó tránh. “Nếu nghề không nuôi sống được người làm, hoặc không đáp ứng nhu cầu thị trường, thì sự mai một là điều khó tránh. Vì vậy, hướng đi phù hợp là phát triển làng nghề theo cách mới: Đưa công nghệ vào sản xuất, đổi mới sản phẩm, gắn với thị hiếu thị trường để tạo ra giá trị kinh tế” - bà Hương phân tích.
Bên cạnh đó, sự thay đổi về cơ cấu dân cư cũng làm suy giảm sự gắn kết truyền thống. Những khu vực như Tây Hồ, Thụy Khuê - nơi có nhiều làng cổ - đang chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của cư dân mới, kéo theo những khoảng cách trong đời sống cộng đồng.
Ở góc độ đời sống văn hóa, điều đáng chú ý là sự phai nhạt của tình làng nghĩa xóm. Những không gian sinh hoạt cộng đồng như đình làng, lễ hội hay các loại hình nghệ thuật truyền thống đang dần thu hẹp hoặc biến đổi.
Trong bối cảnh đó, các hoạt động văn hóa cộng đồng như chiếu ca trù cho thấy vai trò trong việc duy trì kết nối. Đây là không gian giao lưu, góp phần gắn kết các thế hệ, giữa người cũ và người mới.
Ở tầm vĩ mô, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đưa ra cảnh báo: “Lịch sử của nhiều thành phố trên thế giới cho thấy, khi tốc độ đô thị hóa vượt lên trước năng lực bảo vệ bản sắc, thì rất dễ xảy ra hiện tượng đồng dạng hóa không gian, bào mòn ký ức địa phương, đứt gãy cộng đồng và làm nghèo đời sống tinh thần”.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng nhấn mạnh: “Với Hà Nội, nguy cơ ấy càng hiện hữu. Bởi đây không chỉ là một đô thị đang phát triển nhanh, mà còn là nơi chất chứa dày đặc các lớp trầm tích văn hóa: Từ Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, phố cũ, làng nghề, làng cổ, hồ nước, cây xanh, đến nếp sống thanh lịch, văn minh của người Tràng An. Một khi những yếu tố ấy bị lấn át bởi tư duy phát triển chỉ chạy theo tốc độ thì cái mất đi không chỉ là vài công trình cũ mà là một phần bản sắc của Thủ đô”.
Văn hóa thành động lực phát triển
Trước những thách thức đó, tư duy phát triển đô thị Hà Nội đang có sự chuyển dịch rõ rệt: từ bảo tồn sang tích hợp văn hóa vào quy hoạch và biến văn hóa thành nguồn lực phát triển.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, điểm đáng chú ý của Nghị quyết 02 là thay đổi vị trí của văn hóa trong tư duy quy hoạch: “Quy hoạch tầm nhìn 100 năm của Hà Nội không thể chỉ là quy hoạch không gian vật chất, mà phải là quy hoạch không gian văn hóa. Từng trục cảnh quan, từng khu vực lõi di sản, từng không gian công cộng, từng thiết chế văn hóa, từng làng nghề, từng ký ức đô thị đều phải được nhìn như những thành tố cấu thành bản sắc Thủ đô”.
“Văn hóa không đứng bên lề quy hoạch, mà trở thành nguyên lý tổ chức quy hoạch. Một Thủ đô thật sự lớn không chỉ bởi quy mô kinh tế, mà còn bởi khả năng lưu giữ ký ức dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn con người và truyền cảm hứng cho tương lai” - ông Sơn nhấn mạnh.
Để văn hóa trở thành động lực, cần có quá trình chọn lọc và thích nghi. PGS.TS Bùi Tất Thắng cho rằng: “Không nên buộc hiện tại phải gánh vác toàn bộ những yếu tố của quá khứ nếu chúng không còn phù hợp với bối cảnh phát triển mới”. Thay vào đó, “điều quan trọng là phải chọn lọc những giá trị tinh túy, thanh lịch, tiêu biểu nhất của văn hóa truyền thống để đưa vào đời sống đương đại”.
Một yếu tố then chốt là gắn văn hóa với kinh tế. Theo PGS.TS Bùi Tất Thắng, sự tồn tại bền vững của các sinh hoạt cộng đồng hay làng nghề phụ thuộc lớn vào giá trị kinh tế mà chúng tạo ra. Nếu không dựa trên nền tảng thị trường và thích nghi với xu hướng phát triển chung, việc bảo tồn và phát huy di sản sẽ gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, TS Lê Thị Thu Hương nhấn mạnh vai trò của giáo dục: “Câu hỏi đặt ra là thế hệ trẻ đã hiểu và yêu văn hóa truyền thống đến đâu. Khi những giá trị ấy thực sự thấm vào nhận thức và đời sống của người trẻ, bản sắc Hà Nội thanh lịch, văn minh mới có thể được gìn giữ và tiếp nối”.
Đồng thời, cần có sự chuyển đổi trong cách tiếp cận quản trị văn hóa. PGS.TS Bùi Hoài Sơn chỉ ra 3 chuyển đổi quan trọng: Thứ nhất là chuyển từ tư duy bảo tồn thụ động sang bảo tồn sáng tạo. Thứ hai là chuyển từ xem văn hóa như lĩnh vực tiêu dùng ngân sách sang xem văn hóa là lĩnh vực có thể tạo giá trị gia tăng. Thứ ba là chuyển từ quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị phát triển văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ, đồng hành với người dân, nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.
Trong tầm nhìn dài hạn, mô hình “làng trong phố, phố trong làng” không chỉ là một di sản cần bảo tồn mà còn là một nguồn lực phát triển. Khi được tích hợp đúng cách, văn hóa tạo ra giá trị mới cho đô thị, từ kinh tế, du lịch đến công nghiệp sáng tạo.
Như nhận định của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Hà Nội muốn đi xa “nhất định phải đi bằng đôi chân của trí tuệ, của công nghệ và thể chế, nhưng phải đi với trái tim của văn hóa”.
Đó không chỉ là một quan điểm, mà là một định hướng phát triển - nơi giá trị truyền thống được chuyển hóa thành động lực cho tương lai đô thị.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội: “Hà Nội phải là Hà Nội” trong mọi quyết sách
Hà Nội trước hết cần kiên định một nguyên tắc: Phát triển càng lớn càng phải giữ bản sắc rõ hơn. Vì Hà Nội không có đặc quyền được trở thành một đô thị giống mọi đô thị khác. "Hà Nội phải là Hà Nội".
Nghĩa là trong mọi chiến lược phát triển, từ hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát triển không gian ngầm, đô thị thông minh, kinh tế số, trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo, cho tới xây dựng các khu đô thị mới, đều phải có câu hỏi đi kèm: Yếu tố văn hóa ở đâu? Bản sắc Thăng Long - Hà Nội được thể hiện thế nào? Cộng đồng được hưởng lợi ra sao? Ký ức đô thị được giữ lại bằng cách nào?
Tôi cho rằng Hà Nội cần làm đồng thời mấy việc. Một là bảo vệ nghiêm ngặt các không gian di sản cốt lõi, không để lợi ích ngắn hạn làm tổn hại vốn quý ngàn năm. Hai là phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, các không gian sáng tạo, nghệ thuật công cộng, du lịch văn hóa, kinh tế di sản để biến bản sắc thành sức mạnh mềm và giá trị kinh tế. Ba là đầu tư cho con người Hà Nội, cho giáo dục thẩm mỹ, lối sống thanh lịch, văn minh, vì bản sắc đô thị không chỉ nằm ở công trình mà còn nằm ở cư dân của nó. Bốn là ứng dụng công nghệ số để bảo tồn, quảng bá, kết nối và làm mới trải nghiệm văn hóa, giúp người trẻ đến gần hơn với lịch sử của chính thành phố mình. Và thứ năm, phải xây dựng một cơ chế quản trị đô thị biết lắng nghe giới chuyên gia, cộng đồng cư dân và các chủ thể sáng tạo, để phát triển không chỉ đúng hướng mà còn có chiều sâu.
TS Lê Thị Thu Hương, Viện trưởng Viện Hà Nội học và đào tạo quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội: Khi văn hóa trở thành điểm tựa tương lai
Ở Hà Nội, những ngôi làng với thiết chế văn hóa đậm tính làng vẫn hiện hữu ngay trong lòng phố. Đặc biệt, ở đó sẽ có những con người mang trong mình giá trị lịch sử ngàn năm để vươn mình ra thế giới, sẵn sàng gạt đi những thứ chưa phù hợp để bắt kịp cái mới, đưa Hà Nội tiến xa hơn. Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ thấy một Thủ đô vừa văn minh, hiện đại, lại vừa truyền thống. Mối quan hệ giữa con người với con người sẽ rất ấm áp, và đặc biệt là yếu tố thanh lịch, văn minh của người Hà Nội sẽ được thể hiện rất rõ trong tương lai.
Thực tế cho thấy, khi kinh tế khá lên, người trẻ bắt đầu quay lại với văn hóa truyền thống, tìm hiểu ca trù, chầu văn, hay đến đình làng không chỉ để tham quan mà để hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa. Nhưng điều quan trọng là phải giúp họ thực sự hiểu và yêu những giá trị ấy. Nếu văn hóa làng mai một, văn hóa Hà Nội cũng sẽ mất đi một phần gốc rễ. Bởi văn hóa Hà Nội được hình thành từ chính các làng cổ ven sông, rồi hội tụ, chắt lọc và phát triển trong môi trường đô thị.
PGS.TS Bùi Tất Thắng - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Từ cấu trúc làng - phố đến đô thị hiện đại
Tôi cho rằng, nếu mô hình “làng trong phố, phố trong làng” được khai thác tốt, Hà Nội trong tương lai sẽ vừa hiện đại về kiến trúc, vừa mang bản sắc của một Thủ đô ngàn năm tuổi, với những thiết chế văn hóa đậm tính làng trong các khu phố.
Bên trong cấu trúc ấy, nhiều làng nghề truyền thống vẫn tồn tại như những hạt nhân văn hóa đặc sắc của Thủ đô.
Các làng nghề gắn với hoạt động sản xuất và sinh kế của người dân, đồng thời gắn liền với lễ hội, tín ngưỡng và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể. Những yếu tố này góp phần bảo tồn và nuôi dưỡng bản sắc văn hóa Hà Nội qua nhiều thế hệ, tạo nên sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại.
Dòng chảy lịch sử luôn vận động, mỗi thời đại, mỗi thế hệ đều có những nhiệm vụ riêng. Không nên buộc hiện tại phải gánh vác toàn bộ những yếu tố của quá khứ nếu chúng không còn phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Hà Nội cần hội nhập quốc tế, hướng tới trở thành trung tâm có vị thế tương xứng với các thủ đô tiên tiến trên thế giới.
Thư Hoàng