Toàn cảnh Đền thờ Vua Lê Đại Hành tại Cố đô Hoa Lư.
Thân thế và nghị lực phi thường
Lê Đại Hành (tên húy là Lê Hoàn). Cha của Lê Hoàn là Lê Mịch, mẹ của ông là Đặng Thị Sen. Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu, tức ngày 10 tháng 8 năm 941 (theo sách Đại Việt sử ký toàn thư). Khi Lê Hoàn lên 7 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời. Có viên quan án Châu Ái-Thanh Hóa đưa ông về làm con nuôi. Lê Hoàn chịu khó chăm làm. Vào mùa đông một đêm trời giá rét, viên quan vào chỗ ông ngủ thấy có ánh sáng lạ, còn ông thì nằm úp cối, có con rồng vàng ấp lên trên. Từ đấy biết Lê Hoàn có tướng lạ, viên quan nuôi nấng dạy dỗ tử tế.
Đền Lăng (xã Liêm Hà) - di tích gắn liền với quê gốc và triều đại Tiền Lê của Vua Lê Đại Hành.
Về quê hương của ông, dù các nguồn sử liệu còn những điểm khác biệt giữa các địa danh Hà Nam, Ninh Bình hay Thanh Hóa, nhưng cái nhìn của sử học hiện đại đã mở ra một sự kết nối biện chứng. Theo cố Giáo sư Phan Huy Lê, Lê Hoàn sinh ra tại vùng đất Bảo Thái (Hà Nam), nhưng sớm mồ côi và được nuôi dưỡng, trưởng thành trên mảnh đất Trường Châu (Ninh Bình). Giáo sư từng nhận định: "Lê Hoàn là một anh hùng dân tộc... các địa phương đều có quyền tự hào và tôn vinh Ngài như người con ưu tú của quê hương mình". Chính sự gắn bó máu thịt với nhiều vùng đất đã hun đúc nên một nhân cách lớn, một vị hoàng đế có tầm nhìn bao quát toàn dân tộc.
Võ công hiển hách và trí tuệ ngoại giao
Vượt lên trên những gian khó đầu đời, bằng tài năng và chí khí phi thường, Lê Hoàn đã sớm khẳng định được vai trò Thập đạo tướng quân dưới triều Đinh, để rồi từ đó gánh vác sứ mệnh dẫn dắt dân tộc qua cơn binh lửa.
Năm 979, sau cái chết đột ngột của Đinh Tiên Hoàng, vận mệnh nước Đại Cồ Việt rơi vào thế "ngàn cân treo sợi tóc". Bên trong triều đình biến động, bên ngoài quân Tống lăm le xâm lược, quân Chiêm gây hấn. Giữa lúc ấy, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã được sự ủng hộ của quân sĩ. Lịch sử đã ghi lại khoảnh khắc đầy xúc động khi Thái hậu Dương Vân Nga quyết định đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, lấy áo Long cổn khoác lên vai Lê Hoàn, mời ông lên ngôi Hoàng đế. Đó không đơn thuần là sự chuyển giao quyền lực giữa hai dòng họ, mà là sự ký thác vận mệnh dân tộc vào tay người có đủ bản lĩnh để "phá Tống, bình Chiêm", giữ vững cương vực lãnh thổ.
Gian thờ Vua Lê Đại Hành tại Cố đô Hoa Lư.
Dưới sự trị vì của Lê Đại Hành (980 - 1005), quốc gia Đại Cồ Việt đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Lịch sử ghi nhận Lê Hoàn là hiện thân của chiến công kỳ vĩ trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (981), đập tan âm mưu thôn tính Đại Cồ Việt của nhà Tống; khẳng định uy thế của triều Tiền Lê và tài năng quân sự của Lê Hoàn.
Theo các nhà nghiên cứu, tài thao lược của Lê Hoàn thể hiện ở việc xác định chính xác chiến trường chính. Thay vì dàn trải, ông đã tập trung lực lượng chặn địch theo cả hai hướng thủy - bộ tại vùng Đông Bắc. Ông chủ động bố trí quân thủy ở cửa sông Bạch Đằng và quân bộ tại các vùng hiểm yếu như Chi Lăng. Đặc biệt, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cánh quân tại khu vực Lục Đầu Giang đã bẻ gãy hoàn toàn âm mưu hội quân của địch. Chiến thắng này không chỉ bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ mà còn khẳng định sức mạnh của ý thức dân tộc - một động lực mãnh liệt giúp Đại Việt phục hưng và nhanh chóng trở thành quốc gia cường thịnh ở Đông Nam Á.
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn - tái hiện cảnh "nhà vua đi cày" nhằm cầu mưa thuận gió hòa, tri ân tiền nhân và tôn vinh nền văn minh lúa nước
Không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc, Lê Đại Hành còn là một nhà cải cách kinh tế đầy tầm nhìn. Trong 26 năm trị vì, ông đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một nền kinh tế tự chủ:
Ông là vị vua đầu tiên thực hiện nghi lễ Tịch điền, trực tiếp cầm cày để khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Đi cùng với đó là việc đẩy mạnh khai khẩn đất hoang và xây dựng hệ thống thủy lợi, biến vùng đất Hoa Lư và các vùng phụ cận thành những vựa lúa trù phú. Ông cho đào kênh, mở đường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và vận chuyển quân sự. Sự ổn định kinh tế dưới thời Tiền Lê chính là tiền đề quan trọng để Lý Công Uẩn thực hiện cuộc dời đô lịch sử.
Với tư tưởng "nội yên dân, ngoại cường quốc", ông đã thiết lập một nền ngoại giao vừa mềm dẻo vừa kiên quyết. Thái độ tự tôn dân tộc của ông trước các sứ giả phương Bắc đã buộc nhà Tống phải thừa nhận vị thế độc lập thực sự của Đại Cồ Việt.
PGS.TS. Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhận định: Lê Đại hành là vị hoàng đế có những đóng góp kiệt xuất vào tiến trình lịch sử đất nước, đặt cơ sở nền tảng cho bước phát triển nhảy vọt của quốc gia Đại Cồ Việt đầu thế kỷ XI. Ngô Sĩ Liên, nhà sử học lỗi lạc đời Lê cuối thế kỷ XV viết sách Đại Việt sử ký toàn thư đã nhận xét rất đúng rằng, ông: “đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy”. Ông “trừ nội gian mà lấy được nước, đuổi giặc ngoài để yên dân, trong nước thanh bình, Bắc Nam vô sự”.
Những dấu tích bất diệt trên đất Ninh Bình
Sau 26 năm trị vì (980- 1005), mùa xuân, tháng 3 năm Ất Tỵ (1005), ông băng hà tại điện Trường Xuân. Về tên gọi, sử cũ ghi lại ông là vị vua duy nhất được hậu thế gọi bằng danh hiệu Lê Đại Hành. Theo cách giải thích phổ biến của các nhà sử học, "Đại hành" là danh xưng dùng để gọi vị vua mới qua đời nhưng chưa được đặt thụy hiệu chính thức; vì sự tôn kính và tầm vóc vĩ đại của ông , danh hiệu này đã trở thành tên hiệu gắn liền với sự nghiệp lẫy lừng của ông trong sử sách.
Hôm nay, bóng hình của vị Hoàng đế kiệt xuất vẫn hiện hữu rõ nét qua hệ thống di tích dày đặc trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Tại xã Liêm Hà, Đền Lăng được coi là "Thái miếu" của nhà Tiền Lê. Nơi đây không chỉ thờ Vua Lê Đại Hành cùng hai con của ông (Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều) mà còn gắn liền với khu Mả Dấu - nơi đặt lăng mộ cụ tổ Lê Lộc.
Lễ hội Đền Lăng.
Đặc biệt, dấu ấn đậm nét nhất của Ngài trên vùng đất này chính là Lễ hội Tịch điền dưới chân núi Đọi. Mùa xuân năm Đinh Hợi (987), lần đầu tiên trong sử sách, một vị vua đã đích thân xuống đồng cầm cày. Hành động ấy không chỉ là sự khuyến khích nông tang đơn thuần mà còn là một tuyên ngôn về giá trị của lao động, khẳng định gốc rễ của quốc gia nằm ở luống cày và hạt lúa. Di sản ấy vẫn được hậu thế gìn giữ, trở thành biểu tượng cho tinh thần trọng nông của dân tộc suốt hơn một thiên niên kỷ.
Còn tại trung tâm Cố đô Hoa Lư, Đền thờ Vua Lê Đại Hành đứng uy nghiêm với những mảng chạm khắc gỗ tinh xảo, là nơi hội tụ linh khí và lòng thành kính của nhân dân qua bao thế hệ.
Cách đó không xa là chùa Nhất Trụ, nơi lưu giữ Bảo vật quốc gia - Cột kinh đá khắc chữ Phạn, minh chứng cho một thời kỳ văn hóa, Phật giáo cực thịnh. Những tên đất, tên làng, những dòng sông quanh quất dưới chân núi Mã Yên vẫn như còn vang vọng hào khí thiêng liêng của một giai đoạn lịch sử hào hùng mà Lê Hoàn là người cầm lái.
Ngày nay, trên vùng đất Cố đô Hoa Lư lịch sử, chúng ta thành kính tưởng nhớ một vị hoàng đế kiệt xuất - người không chỉ gìn giữ nền độc lập dân tộc bằng những chiến công hiển hách mà còn đặt nền móng cho sự phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Cồ Việt. Di sản của Ngài vẫn luôn là nguồn cảm hứng lớn lao để thế hệ hôm nay vững vàng tiếp bước trên con đường xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.
Nguyễn Lựu
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN & THAM KHẢO
1. Nguyễn Minh Tường (PGS.TS), "Lê Đại Hành Hoàng đế - Con người và Sự nghiệp", Viện Sử học Việt Nam.
2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển I.
3. Lê Văn Hưu, Đại Việt Sử ký (Trích dẫn qua các bộ sử sau này).
4. Nguyễn Văn Tố, Đại Việt kiểm duyệt (Giải nghĩa về danh xưng Đại Hành).
5. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn (NXB Hà Nội)
5. Hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt, Quần thể di tích Cố đô Hoa Lư, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình.
6. Tư liệu địa chí, Địa chí Hà Nam (Về khu di tích đền Lăng và quê hương Bảo Thái).