Lê Hy và vùng đất Kẻ Rủn

Lê Hy và vùng đất Kẻ Rủn
2 giờ trướcBài gốc
Văn bia soạn khắc thời Nguyễn ghi chép về cuộc đời, sự nghiệp của quan đại thần Lê Hy.
Trên vùng đất Kẻ Rủn
“Đất Kẻ Rủn (sau này gọi là Thạch Khê) - nơi cư tụ của nhiều dòng họ: Lê, Phạm, Trần, Hà (sau đổi thành Lê Như), đông nhất là họ Lê với những chi nhánh Lê Công, Lê Duy, Lê Bá, Lê Trọng... Mảnh đất sơn thủy hữu tình ấy nức tiếng xưa kia về truyền thống chống giặc ngoại xâm và học hành khoa cử.
Lịch sử xã Đông Khê cho biết: Ngay từ thời Bắc thuộc, khi Thái thú quận Cửu Chân Lê Ngọc xây dựng kinh đô Trường Xuân khởi binh chống lại nhà Đường, người dân Kẻ Rủn đã nô nức hưởng ứng. Về sau, khởi nghĩa thất bại, thủ lĩnh Lê Ngọc và những người con của ông bị bắt giết. Để tưởng nhớ tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm, người dân trong vùng đã lập đền thờ phụng.
Đến thế kỷ XV, trước sự bóc lột của giặc Minh, Nguyễn Chích đã dựng cờ khởi nghĩa. Dãy núi Hoàng Nghiêu chính là căn cứ phòng tuyến chống giặc. Theo tiếng gọi của Nguyễn Chích người dân làng Thạch Khê lại tụ họp... Rồi Quang Trung tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh xâm lược, trai làng Kẻ Rủn cũng nô nức tòng quân đánh giặc. Trong các cuộc khởi nghĩa của dân tộc, bước chân người Kẻ Rủn lúc nào cũng hăng hái với tinh thần quyết chiến.
Bên cạnh truyền thống yêu nước, Kẻ Rủn còn là vùng đất có truyền thống học hành khoa cử, trước kia từng có “giếng nghiên, mũi bút”, có Văn chỉ thờ Khổng Tử và đề cao nho học, có bia khắc tên tôn vinh những người đỗ đạt từ kỳ thi Hương đến thi Hội. Theo ghi chép, nơi đây có 17 người đỗ hương cống (thời Lê), cử nhân (thời Nguyễn) và hàng chục người đỗ tam trường (sinh đồ thời Lê), tú tài (thời Nguyễn).
Lý giải truyền thống ấy, ông Lê Huy Khải, người trông coi đền thờ Lê Hy cho rằng: Vốn đã là huyện lỵ từ xa xưa nên người dân quê tôi luôn phải gắng gỏi học hành thành tài, giữ gìn quê hương.
Và tể tướng Lê Hy
Lê Hy - nhân vật nổi danh ở thế kỷ XVII, thời Lê Trung hưng. Tên tuổi ông được chép trong nhiều trang sử của Đại Việt sử ký toàn thư; Khâm định Việt sử thông giám cương mục... Lịch sử “nhắc” đến Lê Hy với tư cách không chỉ là một nhà chính trị quyền cao, chức trọng, mà còn là một sử gia đã đóng góp trí tuệ, công sức vào việc hoàn thành bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư.
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ Lê Hy ở tổ dân phố Thạch Khê Thượng, phường Đông Sơn.
Theo bài ký trên tấm bia ở đền Lê Hy do tú tài Lê Như Hải, người thôn Đăng, xã Thạch Khê soạn năm Canh Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 23 (1870), Lê Hy sinh năm Bính Tuất (1646), từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, đối đáp hơn người. 18 tuổi, ông đã đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn (1664), niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 đời vua Lê Huyền Tông. Con đường làm quan của Lê Hy khá hanh thông, nhất là sau khi Định vương Trịnh Căn lên ngôi Chúa (1682). Chỉ 10 năm, Lê Hy liên tục được giao Hữu Thị lang bộ Binh, rồi Tả Thị lang bộ Lễ, Tả Thị lang bộ Lại và làm Bồi tụng trong phủ Chúa, được ban tước Lai Sơn Bá. Chính sử chép lại, từ khi được triều đình tin dùng, nơi quan trường Lê Hy nổi tiếng bởi sự thẳng thắn, không ngại va chạm với bất cứ ai. Vì thế mà ông được vua Lê, chúa Trịnh hết sức tin tưởng, giao giữ nhiều trọng trách. Nhà sử học Ngô Cao Lãng cũng đã viết: “Ông được nhà Chúa tin dùng, làm việc nước hàng 10 năm, không lời nào là không được nhà Chúa nghe theo, từ triều đình đến nơi đồng nội, đều sợ ông là người nghiêm nghị”.
Song, hậu thế nhớ đến ông không phải là hơn 10 năm giữ chức Tể tướng mà còn vì ông đã có công khôi phục thể văn thời Hồng Đức góp phần chấn hưng nền giáo dục dưới triều Lê Hy Tông (1676-1705). Và hơn hết, ông đã có những đóng góp quan trọng cho nền sử học dân tộc. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử lớn nhất nước ta dưới thời Lê Trung Hưng được biên soạn qua nhiều đời với nhiều nhà sử học, trong đó ghi dấu ấn của Lê Hy.
Sách Văn tài võ lược ghi rất rõ: Năm 1676, triều đình Lê Hy Tông giao cho Thượng thư Bộ công là Hồ Sĩ Dương trông coi việc sửa quốc sử. Tuy nhiên đến năm 1681 ông Hồ Sĩ Dương qua đời khi công việc chưa xong, triều đình giao cho Lê Hy là một trong 13 người trong nhóm. Nhiệm vụ chính là “Khảo đính sử cũ, chỗ nào sai thì sửa lại, chỗ nào đúng thì chép lấy. Về thế thứ, phàm lệ, niên biểu hết thảy đều theo như trước đã trước thuật. Lại sưu tầm sự tích cũ, tham khảo các dã sử, biên chép từ Huyền Tông Mục hoàng đế niên hiệu Chính Trị năm đầu (1663) đến Gia Tông Mỹ hoàng đế năm Đức Nguyên thứ 2 (1675), tất cả sự thực trong 13 năm, gọi là Bản kỷ tục biên”.
Năm Nhâm Ngọ (1702), Tể tướng Lê Hy đột ngột qua đời khiến vua Lê, chúa Trịnh nghe tin vô cùng đau xót. Triều đình đã truy tặng ông hàm Thái Bảo, tước Lại Quận công, ban tên thụy là Duệ Đạt đồng thời lệnh cho dân, quan binh lập đền thờ quanh năm tế lễ.
Đã 324 năm kể từ khi Tể tướng Lê Hy qua đời, nhưng làng Thạch Khê xưa, tổ dân phố Thạch Khê Thượng nay vẫn lưu truyền khá nhiều giai thoại về trí thông minh hiếm có của ông. Trước bàn thờ đơn sơ, ông Lê Duy Khải kính tâu tiền nhân cầu cho năm mới con cháu học hành đỗ đạt. Đứng trước tấm bia đá đã mờ hết nét chữ ở Di tích lịch sử Quốc gia Đền thờ Lê Hy ở tổ dân phố Thạch Khê Thượng, phường Đông Sơn, nghe những câu chuyện hư hư thực thực về vị tể tướng, chúng tôi hiểu rằng thời gian dù đã lùi xa, nhưng hậu thế vẫn luôn nghĩ về ông như một tấm gương lớn trong sự học và một đời làm quan thanh liêm n
Bài viết có sử dụng tư liệu sách Văn tài võ lược xứ Thanh, Trịnh Hoành, NXB Thanh Hóa, 2017; Địa chí huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, NXB Khoa học xã hội, 2006...
Bài và ảnh: CHI ANH
Nguồn Thanh Hóa : https://vhds.baothanhhoa.vn/le-hy-va-vung-dat-ke-run-41824.htm