Những ngày này, nhân dân quê nhà Bắc Sơn, xã Đô Lương đang háo hức kỷ niệm 95 năm ngày truyền thống (25/4/1931 - 25/4/2026). Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Bắc Sơn (nay là xã Đô Lương), chúng tôi có dịp tiếp cận cuốn lý lịch đảng viên của một cán bộ lão thành cách mạng, được cấp ủy huyện Đô Lương xác nhận vào tháng 2 năm 1975.
Đó là ông Lê Văn Kinh (tên thường gọi là Lê Văn Bật) – một trong ba đảng viên của Chi bộ “Đ” (tên chữ là Chi bộ Bạch Linh), chi bộ Đảng đầu tiên của tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn. Chi bộ “Đ” được thành lập ngày 15/3/1930 tại đình làng Lương Sơn.
Ông Lê Văn Kinh sinh năm 1900 tại làng Lương Sơn, tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn (nay là xóm 2 Bắc Sơn, xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình nông dân nghèo. Cuộc sống mưu sinh vất vả, quanh năm làm thuê, cuốc mướn, dựa vào rừng làm rẫy, kiếm củi đã sớm hun đúc ở ông ý chí vượt khó và tinh thần chịu đựng gian khổ.
Cụ Lê Văn Kinh khi còn trẻ. Ảnh gia đình cung cấp
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, làng Lương Sơn cũng như nhiều vùng quê khác rơi vào cảnh áp bức, bóc lột nặng nề. Bọn cường hào, ác bá hoành hành, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, tối tăm.
Tuy nhiên, Lương Sơn lại có vị trí địa lý thuận lợi: Gần rừng, có sông Lam chảy qua, là điểm giao thoa nối liền các vùng như: Cát Ngạn, Hạnh Lâm, Bồi Sơn, Lưu Sơn… Nhờ vậy, nơi đây trở thành điểm dừng chân của nhiều ông đồ, thầy lang. Chính họ đã góp phần truyền bá chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và nghề thuốc cho thanh niên trong làng.
Từ môi trường đó, những người như Bùi Văn Thừa, Bùi Thế Thuận, Lê Văn Kinh… được tiếp cận tri thức. Dù điều kiện học tập vô cùng thiếu thốn - không giấy bút, phải viết bằng son lên đất, lên ván, hoặc dùng gai viết lên lá chuối - nhưng chính những lớp học giản dị ấy đã gieo mầm nhận thức cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí đấu tranh trong thế hệ thanh niên Lương Sơn.
Trong những năm 1922 - 1925, các chí sĩ yêu nước như Tôn Quang Phiệt, Tôn Quang Duyệt, Đặng Thái Thân… đã nhiều lần về Lương Sơn tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cách mạng, truyền bá tác phẩm "Đường kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc. Dưới sự dẫn dắt đó, các ông Bùi Văn Thừa, Bùi Thế Thuận, Lê Văn Kinh đã tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt như phường rẫy chè, phường tranh, phường cút kít; hội ái hữu, hội tương tế… Đồng thời, họ còn góp vốn mở các quán bán nông cụ để làm nơi liên lạc bí mật, tránh sự theo dõi của mật thám.
Sau khi Chi bộ “Đ” được thành lập, ông Lê Văn Kinh được giao phụ trách công tác tuyên truyền và in ấn tài liệu của Đảng. Ông tích cực vận động quần chúng, xây dựng phong trào cách mạng tại Lương Sơn.
Trong thời kỳ cao trào 1930 - 1931, ông bị địch bắt hai lần, giam giữ tại Nhà lao Vinh và phủ lỵ, nhưng do không khai thác được thông tin, chúng buộc phải thả ông về theo dõi. Tháng 8/1930, khi phong trào cách mạng phát triển mạnh, Chi bộ “Đ” được tách thành ba chi bộ; chi bộ Lương Sơn lúc này có 9 đảng viên, ông tiếp tục phụ trách tuyên truyền và in ấn.
Sau sự kiện thực dân Pháp đàn áp, giết hại nhiều chiến sĩ cách mạng, tổ chức phải chuyển vào hoạt động bí mật. Từ tháng 4 đến tháng 9/1931, ông được chỉ định làm Tổng ủy Địa nhị, phụ trách in ấn và công tác cứu tế. Đến tháng 10/1931, ông bị bắt, kết án 3 năm tù và bị giam tại đồn Thịnh Đức (Yên Thành).
Sau khi ra tù, một thời gian ông không liên lạc được với tổ chức, nhưng vẫn cùng các đồng chí âm thầm vận động quần chúng theo đường lối của Đảng. Đến năm 1937, chi bộ được khôi phục, ông tiếp tục tham gia và được bổ sung vào Phủ ủy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt các cán bộ lão thành cách mạng tại Khu Di tích Kim Liên ngày 9/12/1961. Ảnh tư liệu
Giai đoạn 1938 - 1940, phong trào bị đàn áp mạnh, nhiều cán bộ bị bắt. Ông may mắn thoát và tiếp tục hoạt động. Đầu năm 1941, ông cùng các đồng chí phục hồi tổ chức, nhưng đến tháng 6/1941 lại bị bắt, giam tại Nhà lao Vinh rồi Nhà lao Buôn Mê Thuột cho đến tháng 4/1945.
Sau khi ra tù, ông nhanh chóng bắt liên lạc với tổ chức Việt Minh, tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh làng Lương Sơn và được cử làm Chủ nhiệm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ông đã vận động nhân dân tham gia Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền ngày 23/8/1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại địa phương như: Chủ tịch UBHC lâm thời, Bí thư chi bộ, Chủ nhiệm Việt Minh xã Tây Sơn; Ủy viên Mặt trận Việt Minh phủ Anh Sơn… Những năm sau đó, ông tiếp tục công tác tại Thanh Hóa và Nghệ An ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Năm 1962, ông nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia công tác địa phương cho đến năm 1973.
Theo lý lịch, ông bắt đầu hoạt động cách mạng từ tháng 2/1929. Như vậy, ông đã có gần 45 năm cống hiến liên tục cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Ghi nhận những đóng góp ấy, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, cùng nhiều phần thưởng khác...
Gần nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn 1930–1945, ông nhiều lần bị bắt, chịu đựng tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ông luôn kiên định lý tưởng, tuyệt đối trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, “sống cùng Đảng, chết không rời Đảng”.
Trần Hữu Hy - Hoàng Xuân