Quang cảnh bờ biển Iran và đảo Qeshm ở eo biển Hormuz, ngày 10/12/2023. Ảnh: REUTERS/TTXVN
Theo trang Al Jazeera, eo biển Hormuz - tuyến hàng hải huyết mạch từng vận chuyển khoảng 1/5 sản lượng dầu và khí đốt toàn cầu - đang gần như tê liệt khi Mỹ và Iran đồng thời áp đặt các biện pháp phong tỏa đối đầu. Diễn biến này một lần nữa cho thấy sức nặng của phong tỏa hải quân - một trong những công cụ chiến tranh cổ xưa nhất nhưng vẫn có thể gây tác động sâu rộng.
Trong lịch sử, phong tỏa hải quân đã nhiều lần định hình lại kinh tế, xã hội và các liên minh quốc tế. Có khi tác động xuất hiện tức thời, nhưng cũng có trường hợp âm ỉ kéo dài rồi bùng phát thành khủng hoảng sau nhiều năm.
Từ Trung Đông đến châu Phi, từ Thế chiến thứ nhất đến thời Chiến tranh Lạnh, những “vòng vây trên biển” hầu như luôn đi kèm cái giá nhân đạo lớn. Dưới đây là một số cuộc phong tỏa hải quân tiêu biểu.
Cuộc phong tỏa kéo dài và gây tranh cãi ở Gaza (2007 đến nay)
Cảng Gaza City bị tàn phá nặng nề, khi ngư dân vẫn mưu sinh trong điều kiện khó khăn do các cuộc tấn công của Israel, ngày 8/3/2025. Ảnh: Anadolu
Kể từ năm 2007, Israel đã áp đặt lệnh phong tỏa toàn diện đối với Dải Gaza trên cả ba hướng - đất liền, trên biển và trên không - biến nơi này thành một trong những khu vực bị bao vây lâu nhất thế giới.
Việc kiểm soát nghiêm ngặt dòng chảy hàng hóa và nhu yếu phẩm đã đẩy hơn 2,3 triệu người vào vòng xoáy khủng hoảng kinh tế - nhân đạo, đồng thời hạn chế đáng kể quyền đi lại của người dân Gaza.
Trước khi xung đột leo thang vào tháng 10/2023, ngư dân Gaza chỉ được phép hoạt động trong phạm vi 6 - 15 hải lý, thấp hơn nhiều so với mức 20 hải lý theo Thỏa thuận Oslo. Sau đó, điều kiện càng trở nên khắc nghiệt, buộc nhiều người phải đánh đổi sự an toàn để mưu sinh.
Từ năm 2008, các đoàn tàu “Freedom Flotilla” liên tục tìm cách tiếp cận Gaza nhằm phá vỡ vòng vây. Song từ năm 2010 đến nay, hầu hết tàu này đều bị Israel chặn lại hoặc tấn công trên vùng biển quốc tế. Cuối tháng 4 vừa qua, phần lớn tàu trong chiến dịch “Global Sumud Flotilla” đã bị kiểm soát khi còn cách Gaza hơn 1.000 km.
Cuộc phong tỏa Biafra biến xung đột thành thảm họa đói nghèo (1967 - 1970)
Binh sĩ Nigeria tiến vào cảng Harcourt sau khi đánh bại lực lượng Biafra trong Nội chiến Nigeria. Ảnh tư liệu: Evening Standard/Getty Images
Trong Nội chiến Nigeria, bắt đầu từ năm 1967, Chính phủ Nigeria đã áp đặt lệnh phong tỏa toàn diện đối với vùng ly khai Biafra sau khi khu vực này tuyên bố độc lập.
Việc cắt đứt nguồn lương thực và viện trợ đã gây ra nạn đói trên diện rộng. Ước tính có tới 1 - 2 triệu người đã thiệt mạng, chủ yếu do suy dinh dưỡng và bệnh tật, biến một cuộc xung đột lãnh thổ thành khủng hoảng nhân đạo.
Cuộc phong tỏa này kéo dài gần ba năm, kết thúc khi Biafra đầu hàng vào tháng 1/1970.
Phong tỏa cảng Beira (1966 - 1975)
Trực thăng Wasp trên tàu HMS Cleopatra gặp sự cố động cơ trong chiến dịch phong tỏa cảng Beira năm 1971: 50tony/Wikimedia Commons
Hải quân Anh đã tiến hành phong tỏa cảng Beira (Mozambique) trong 9 năm nhằm ngăn dòng dầu mỏ đến Rhodesia (nay là Zimbabwe), theo các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc sau khi chính quyền này đơn phương tuyên bố độc lập.
Tuy nhiên, mục tiêu chiến lược không đạt được như kỳ vọng khi Rhodesia vẫn duy trì nguồn cung qua các cảng khác. Khi đó, Anh buộc phải duy trì lực lượng lớn, có thời điểm tới 76 tàu chiến tham gia, với chi phí đáng kể.
Lệnh phong tỏa chấm dứt vào tháng 7/1975, khi Mozambique giành độc lập từ Bồ Đào Nha và có thể kiểm soát hiệu quả dòng dầu quá cảnh, khiến hoạt động phong tỏa không còn cần thiết.
“Vùng cách ly” trong Khủng hoảng tên lửa Cuba
Quan chức Mỹ trình bày các ảnh chụp từ trên không về một căn cứ tên lửa tầm trung của Cuba, được ghi lại vào tháng 10/1962, trước các thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ảnh tư liệu: Al Jazeera/AFP
Tháng 10/1962, sau khi phát hiện Liên Xô triển khai tên lửa hạt nhân tại Cuba, Mỹ đã thiết lập “vùng cách ly” quanh hòn đảo này. Khi đó, Washington tránh dùng từ “phong tỏa” vì về pháp lý, đây có thể bị coi là hành động chiến tranh. Mục tiêu của hành động này là ngăn Liên Xô đưa thêm vũ khí vào Cuba, đồng thời gây sức ép buộc rút các tên lửa đã triển khai.
Hải quân Mỹ đã thiết lập vành đai kiểm soát cách bờ biển Cuba khoảng 500 hải lý (khoảng 920 km), sẵn sàng chặn và kiểm tra tàu chở vũ khí tấn công nếu cần thiết.
Cuộc khủng hoảng đã đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân. Bí thư thứ nhất Liên Xô khi đó là ông Nikita Khrushchev gọi lệnh phong tỏa là “hành vi cướp biển trắng trợn” và là một hành động gây hấn. Trong vài ngày, các tàu Liên Xô tiến về phía ranh giới cách ly trong khi cả thế giới dõi theo.
Cuộc đối đầu kéo dài 13 ngày, đưa thế giới đến sát bờ vực chiến tranh hạt nhân. Cuối cùng, hai bên đã đạt được một thỏa thuận và lệnh “cách ly” được dỡ bỏ ngày 20/11/1962.
Wonsan: Cuộc phong tỏa dài nhất trong Chiến tranh Triều Tiên
Máy bay ném bom B-26 của Mỹ thả bom phá hủy kho hàng và cơ sở cầu cảng tại cảng Wonsan, Triều Tiên, năm 1951. Ảnh tư liệu: Wikimedia Commons
Trong Chiến tranh Triều Tiên, lực lượng hải quân Liên hợp quốc do Mỹ dẫn đầu đã áp đặt phong tỏa cảng Wonsan của Triều Tiên vào tháng 2/1951.
Lệnh phong tỏa kéo dài gần hai năm rưỡi, mục tiêu là ngăn lực lượng Triều Tiên sử dụng cảng chiến lược này, nơi có sân bay và nhà máy lọc dầu.
Trước đó, Triều Tiên đã thực hiện chiến dịch rà phá thủy lôi, đánh chìm các tàu quét mìn USS Pledge và USS Pirate.
Lệnh phong tỏa kết thúc sau 861 ngày khi Hiệp định Đình chiến Triều Tiên được ký kết vào tháng 7/1953. Tuy nhiên, Wonsan gần như bị tàn phá nặng nề vào thời điểm đó.
Mỹ phong tỏa Nhật Bản bằng tàu ngầm (1942 - 1945)
Hải quân Mỹ đánh chìm tàu khu trục Yamakaze của Nhật Bản ngày 25/6/1942. Ảnh tư liệu: Hải quân Mỹ/Wikimedia Commons
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, Mỹ đã triển khai chiến lược phong tỏa hải quân đối với Nhật Bản.
Cuộc phong tỏa bắt đầu từ năm 1942, kết hợp với cuộc tấn công tàu buôn và hoạt động rải thủy lôi làm tê liệt khả năng chiến tranh của Nhật Bản, gây gián đoạn vận chuyển và cắt đứt nguồn cung cấp thiết yếu như lương thực và nhiên liệu.
Là một quốc đảo, Nhật Bản đặc biệt dễ bị tổn thương, gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ, cao su và nguyên liệu thô. Nền kinh tế và quân đội của nước này không thể hoạt động nếu không có các tuyến đường biển thông thoáng.
Trong suốt cuộc chiến, tàu ngầm Mỹ đã đánh chìm khoảng 1.300 tàu buôn và khoảng 200 tàu chiến của Nhật Bản. Đến năm 1945, việc nhập khẩu dầu mỏ thực tế đã chấm dứt.
Ngoài ra, nhập khẩu lương thực cũng bị gián đoạn, gây ra tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Năm 1945, nhiều người dân Nhật Bản đã bị suy dinh dưỡng và số người chết đói vẫn còn gây tranh cãi.
Ngày 6/8/1945, Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và 3 ngày sau là xuống Nagasaki. Đến ngày 15/8/1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, chấm dứt cuộc phong tỏa và Chiến tranh Thái Bình Dương.
Phong tỏa Đông Địa Trung Hải (1915 - 1918)
Bản đồ thời Thế chiến thứ nhất về khu vực Palestine và Syria ngày nay, xuất bản năm 1918. Ảnh tư liệu: Wikimedia Commons
Vào tháng 8/1915, trong Thế chiến thứ nhất, lực lượng Đồng minh đã áp đặt lệnh phong tỏa bờ biển phía đông Địa Trung Hải nhằm cắt đứt nguồn cung quân sự và suy yếu nỗ lực chiến tranh của Đế quốc Ottoman.
Việc cắt nguồn lương thực, nhiên liệu và thuốc men, cộng với nạn châu chấu và hạn hán, đã gây ra nạn đói nghiêm trọng tại Liban và Syria.
Các báo cáo cho thấy nạn đói đã khiến 500.000 người chết vào năm 1918, chủ yếu là dân thường. Trong đó, vùng núi Liban mất tới 1/3 dân số.
Cuộc phong tỏa vẫn được duy trì trong suốt cuộc chiến và chỉ được dỡ bỏ khi lực lượng đồng minh kiểm soát Beirut và vùng núi Liban vào tháng 10/1918.
Phe Đồng minh phong tỏa Đức (1914 - 1919)
Tàu ngầm U-35 của Đức đánh chìm tàu chở hàng Herault của Pháp trên Địa Trung Hải, ngoài khơi Cabo San Antonio (Tây Ban Nha), ngày 23/6/1916. Ảnh: Thư viện Quốc hội Mỹ
Hải quân Anh đã triển khai phong tỏa Đức gần như ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ vào tháng 8/1914.
Vành đai phong tỏa kéo dài từ eo biển Manche đến Na Uy, cắt đứt nước Đức khỏi các tuyến hàng hải quốc tế. Anh rải thủy lôi trên biển, gây nguy hiểm cả với tàu trung lập, trong khi Đức đáp trả bằng việc tuyên bố vùng biển quanh quần đảo Anh là khu vực quân sự. Sau đó, Anh và Pháp áp đặt lệnh cấm toàn diện đối với hàng hóa ra vào Đức.
Hệ quả nghiêm trọng nhất là nạn đói trên diện rộng. Mùa đông 1916 - 1917, còn gọi là “Mùa đông Củ cải”, đánh dấu giai đoạn khắc nghiệt nhất khi nguồn lương thực cạn kiệt sau vụ mùa thất bại. Ước tính từ 424.000 đến 763.000 dân thường thiệt mạng do suy dinh dưỡng và bệnh tật.
Lệnh phong tỏa chỉ được dỡ bỏ hoàn toàn vào tháng 7/1919, sau khi Hiệp ước Versailles được ký kết.
Có thể thấy, từ những cuộc xung đột trong quá khứ đến eo biển Hormuz hiện nay, phong tỏa hải quân cho thấy hiệu quả chiến lược đáng kể mà không cần giao tranh trực diện. Tuy nhiên, lịch sử cũng chỉ ra rằng công cụ này gần như luôn đi kèm những hệ lụy nhân đạo sâu sắc, đặc biệt đối với dân thường.
Hải Vân/Báo Tin tức và Dân tộc