Bom hạt nhân phát nổ tại đảo san hô Bikini ở Thái Bình Dương năm 1946 ở một trong số nhiều vụ thử hạt nhân của Mỹ. Ảnh: Getty Images
Ý tưởng trên được cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ Newt Gingrich nhắc lại trong một bài đăng trên mạng xã hội ngày 15/3/2026. Ông dẫn lại một bài viết mang tính châm biếm, nhưng chưa làm rõ liệu bản thân có thực sự ủng hộ đề xuất này hay không. Tuy nhiên, ông thuộc thế hệ từng chứng kiến thời kỳ mà những ý tưởng như vậy không chỉ được bàn luận nghiêm túc mà còn được chính phủ Mỹ và Liên Xô theo đuổi.
Theo cuốn sách "Deep Cut: Science, Power, and the Unbuilt Interoceanic Canal" (Chuyên sâu: Khoa học, Quyền lực và giấc mơ dang dở về kênh đào liên đại dương” của tác giả Christine Keiner
(Chủ nhiệm Khoa Khoa học, Công nghệ và Xã hội, Viện Công nghệ Rochester - Mỹ), phiên bản dự án của Mỹ chỉ chính thức kết thúc vào năm 1977. Vào thời điểm đó, ông Gingrich vừa bắt đầu sự nghiệp chính trị sau khi làm giảng viên lịch sử và nghiên cứu môi trường.
Cải thiện thương mại toàn cầu và ảnh hưởng địa chính trị
Ý tưởng về một kênh đào mới để vận chuyển dầu từ Trung Đông đã xuất hiện hai thập kỷ trước đó, trong bối cảnh một cuộc xung đột khác ở Trung Đông, cuộc khủng hoảng Suez. Năm 1956, Ai Cập giành quyền kiểm soát kênh đào Suez từ tay Anh và Pháp. Việc kênh đào bị đóng cửa kéo dài đã khiến giá dầu, trà và các mặt hàng khác tăng vọt đối với người tiêu dùng châu Âu, những người phụ thuộc vào tuyến đường vận chuyển tắt này để vận chuyển hàng hóa từ châu Á.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu năng lượng hạt nhân có thể được khai thác để xây dựng một kênh đào thay thế xuyên qua “lãnh thổ thân thiện”? Đó là câu hỏi được đặt ra bởi Edward Teller, "cha đẻ" của bom hydro, và các nhà vật lý đồng nghiệp của ông tại Phòng thí nghiệm bức xạ Lawrence ở Livermore, California.
Những con tàu bị đánh chìm chặn một đầu kênh đào Suez năm 1956, gây ra sự phản đối và xung đột quốc tế. Ảnh: Getty Images
Chính quyền của Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã bắt đầu thúc đẩy năng lượng nguyên tử để tạo ra điện và cung cấp năng lượng cho tàu ngầm. Sau cuộc khủng hoảng Suez, chính phủ Mỹ đã mở rộng kế hoạch khai thác “nguyên tử vì hòa bình”.
Những người ủng hộ Dự án Plowshare, do Teller dẫn đầu, đã tìm cách sử dụng cái mà họ gọi là “vụ nổ hạt nhân hòa bình” để giảm chi phí của các dự án san lấp mặt bằng quy mô lớn và thúc đẩy an ninh quốc gia. Họ hình dung ra một thế giới mà chất nổ hạt nhân có thể giúp khai thác khí đốt tự nhiên từ các mỏ ngầm và xây dựng các kênh đào, bến cảng và đường núi mới, với tác động phóng xạ tối thiểu.
Để khởi động chương trình, Teller muốn tạo ra một bến cảng tức thì bằng cách chôn và sau đó kích nổ 5 quả bom nhiệt hạch trong một ngôi làng của người bản địa ở vùng ven biển tây bắc Alaska. Kế hoạch này, được gọi là Dự án Chariot, đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt.
Teller và các nhà vật lý học tại Livermore cũng đã hợp tác với Quân đoàn Công binh để nghiên cứu khả năng sử dụng vụ nổ hạt nhân để xây dựng một tuyến đường thủy khác ở Panama. Lo sợ rằng kênh đào Panama cũ kỹ và các âu tàu hẹp của nó sẽ sớm trở nên lỗi thời, các quan chức Mỹ đã kêu gọi xây dựng một kênh đào rộng hơn, sâu hơn mà không cần bất kỳ âu tàu nào để nâng hạ tàu thuyền dọc theo tuyến đường.
Một kênh đào ngang mực nước biển không chỉ phù hợp với các tàu lớn hơn; nó cũng sẽ đơn giản hơn để vận hành so với hệ thống âu tàu, vốn cần hàng nghìn nhân viên. Từ đầu những năm 1900, công nhân kênh đào của Mỹ và gia đình họ đã sống trong vùng Kênh đào, một dải đất rộng lớn bao quanh tuyến đường thủy. Người Panama ngày càng bất bình khi đất nước của họ bị chia cắt làm hai bởi khu vực phân biệt chủng tộc, giống như thuộc địa.
Việc xây dựng kênh đào Panama đòi hỏi lao động chân tay cực nhọc. Ảnh: Getty Images
Kế hoạch đào kênh xuyên Trung Mỹ bằng hàng trăm quả bom
Các vụ nổ hạt nhân dường như đã khiến việc xây dựng một kênh đào ngang mực nước biển mới trở nên khả thi về mặt tài chính. Động lực lớn nhất cho cái gọi là Kênh đào Panatomic xảy ra vào tháng 1/1964, khi các cuộc biểu tình chống Mỹ bạo lực nổ ra ở Panama. Tổng thống khi đó Lyndon B. Johnson đã phản ứng với cuộc khủng hoảng bằng cách đồng ý đàm phán các thỏa thuận chính trị mới với Panama.
Ông Johnson đã bổ nhiệm Ủy ban Nghiên cứu Kênh đào Liên đại dương Đại Tây Dương - Thái Bình Dương để xác định vị trí tốt nhất để sử dụng vụ nổ hạt nhân nhằm tạo ra một tuyến đường biển nối liền hai đại dương. Được tài trợ bởi khoản ngân sách 17,5 triệu USD do Quốc hội phê duyệt – tương đương với khoảng 185 triệu USD ngày nay – năm ủy viên dân sự đã tập trung vào hai tuyến đường: một ở phía đông Panama và một ở phía tây Colombia.
Tuyến đường Panama trải dài qua các thung lũng sông có rừng rậm của eo đất Daríen và đạt độ cao khoảng 380 mét so với mực nước biển. Để đào bới địa hình này, các kỹ sư đề xuất kích nổ 294 quả bom hạt nhân dọc theo tuyến đường, trong 14 vụ nổ riêng biệt, sử dụng lượng thuốc nổ tương đương với 166,4 triệu tấn TNT.
Đây là một lượng năng lượng đáng kinh ngạc: Vũ khí hạt nhân mạnh nhất từng được thử nghiệm, vụ nổ "Tsar Bomba" của Liên Xô năm 1961, cũng chỉ giải phóng năng lượng tương đương với 50 triệu tấn TNT.
Để tránh phóng xạ và chấn động mặt đất, các nhà quy hoạch ước tính rằng khoảng 30.000 người, một nửa trong số đó là người bản địa, sẽ phải được sơ tán và tái định cư. Ủy ban kênh đào coi đây là một trở ngại lớn nhưng không phải là không thể vượt qua, viết trong báo cáo cuối cùng của mình: "Các vấn đề về sự chấp nhận của công chúng đối với việc đào kênh bằng năng lượng hạt nhân có lẽ có thể được giải quyết thông qua ngoại giao, giáo dục công chúng và các khoản bồi thường."
Một ý tưởng không khả thi
Các nhà sinh vật học biển và tiến hóa vào cuối những năm 1960 đã tìm cách nghiên cứu những tác động môi trường ít rõ ràng hơn của dự án. Trong số những thảm họa tiềm tàng khác, các nhà khoa học cảnh báo rằng một kênh đào ở mực nước biển có thể gây ra “sự xâm lấn lẫn nhau của các sinh vật Đại Tây Dương và Thái Bình Dương” khi con người nối liền các đại dương ở hai bên eo đất lần đầu tiên sau 3 triệu năm.
Các kế hoạch xây dựng tuyến đường thủy bằng phương pháp nổ hạt nhân đã kết thúc vào đầu những năm 1970, không phải vì lo ngại về các loài sinh vật biển xâm lấn mà là do các vấn đề phức tạp khác. Những vấn đề này bao gồm khó khăn trong việc thử nghiệm các vụ nổ hạt nhân vì mục đích hòa bình mà không vi phạm Hiệp ước Cấm Thử nghiệm Hạt nhân Hạn chế năm 1963 và thâm hụt ngân sách khổng lồ với Mỹ do cuộc xâm lược Việt Nam gây ra.
Bất chấp những hạn chế về địa chính trị và tài chính, các nghiên cứu về kênh đào ở mực nước biển đã sử dụng hàng trăm nhà nghiên cứu, những người đã tăng cường kiến thức về eo đất và cư dân của con người và các loài sinh vật khác ở đó. Trớ trêu thay, các nghiên cứu cho thấy rằng đá phiến sét ẩm dọc theo tuyến đường Daríen có nghĩa là chất nổ hạt nhân có thể không hoạt động tốt ở đó.
Nhưng đối với những người ủng hộ lớn nhất của Dự án Plowshare, việc khai quật bằng bom nguyên tử vẫn là một mục tiêu đáng giá. Năm 1970, trong báo cáo cuối cùng của mình, các thành viên ủy ban kênh đào dự đoán rằng “một ngày nào đó, bom hạt nhân sẽ được sử dụng trong nhiều dự án san lấp mặt bằng quy mô lớn”.
Một ý tưởng “điên rồ” nhìn từ hiện tại
Ngày nay, với nhận thức rộng rãi về những tác động nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của bụi phóng xạ, thật khó để hình dung một thời điểm mà việc sử dụng bom hạt nhân để xây dựng kênh đào có vẻ hợp lý. Ngay cả trước khi bài đăng của nghị sĩ Gingrich gây ra sự chế giễu, các bài báo đã mô tả Dự án Plowshare bằng những từ như “kỳ quặc”, “điên rồ” và “mất trí”.
Tuy nhiên, khi các xã hội đang vật lộn với những công nghệ mới mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo tạo sinh và tiền điện tử, điều đáng nhớ là nhiều ý tưởng cuối cùng bị bác bỏ từng có vẻ không chỉ hợp lý mà còn là điều tất yếu.
Như các nhà sử học khoa học và công nghệ đã chỉ ra, sự phát triển công nghệ và khoa học không thể tách rời khỏi bối cảnh văn hóa của chúng. Hơn nữa, những công nghệ trở thành một phần trong cuộc sống hàng ngày của con người thường không phải vì chúng vốn dĩ vượt trội, mà vì những thế lực mạnh mẽ ủng hộ chúng.
Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc (Theo The Conversation)