Lỗ hổng hỏa lực của quân đội Mỹ

Lỗ hổng hỏa lực của quân đội Mỹ
một giờ trướcBài gốc
“Cơn khát đạn” của quân đội Mỹ
Sau cuộc gặp với lãnh đạo 7 tập đoàn quốc phòng hàng đầu nước Mỹ tại dinh thự Mar-a-Lago vào tháng 3/2026, Tổng thống Donald Trump đã hào hứng tuyên bố về một kỷ nguyên của “vũ khí đẳng cấp tinh hoa”. Trên mạng xã hội Truth Social, ông hết lời ca ngợi các thỏa thuận sơ bộ nhằm mở rộng quy mô sản xuất những khí tài như tên lửa đánh chặn Patriot PAC-3, tên lửa hành trình Tomahawk và hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) mà Lầu Năm Góc vừa đạt được với các nhà thầu quốc phòng.
Những thông tin sau đó cũng gây choáng ngợp: Tập đoàn Lockheed Martin cam kết nâng sản lượng tên lửa đánh chặn PAC-3 Patriot từ 600 lên 2.000 quả/năm, đồng thời tăng gấp 4 lần sản lượng hệ thống đánh chặn tầm cao THAAD từ 96 lên 400 quả... Đây là những con số gây ấn tượng nhưng thực tế chúng không thấm vào đâu nếu so sánh với “cơn khát đạn” mà quân đội Mỹ đang và sẽ tiếp tục đối mặt.
Trong khi Lầu Năm Góc đang thương thảo mở rộng sản xuất, quân đội Mỹ đã phối hợp cùng Israel tiến hành không kích Iran. Chiến dịch này ngốn một lượng vũ khí khổng lồ. Theo tính toán của Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), chi phí chiến tranh với Iran leo thang nhiều tỷ USD chỉ sau 12 ngày đầu tiên, phần lớn trong số đó dành cho các loại đạn. Còn quan chức phụ trách ngân sách của Lầu Năm Góc, ông Jay Hurst, ngày 21/4, thừa nhận, chi phí chiến tranh tính đến thời điểm đó đã lên tới 25 tỷ USD. Một số chuyên gia cho rằng, con số cuối cùng chắc chắn còn cao hơn nhiều.
Một tên lửa hành trình chi phí thấp - RAACM (ở giữa) dưới cánh chiếc F-16. Ảnh: Breaking Defense.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tiêu hao. Nhịp độ bổ sung kho đạn của Mỹ vốn đã tụt hậu so với nhu cầu từ trước khi chiến sự Iran nổ ra. Dữ liệu từ Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney (USSC) cho thấy, số lượng tên lửa hành trình Tomahawk mà Hải quân Mỹ khai hỏa chỉ trong những ngày đầu chiến dịch tấn công lực lượng Houthi ở Yemen tháng 12/2023 đã tương đương 145% tổng số tên lửa được mua trong cả năm tài chính trước đó. Sau các cuộc không kích Syria năm 2017-2018, Lầu Năm Góc cũng chỉ bổ sung 80% số Tomahawk đã dùng.
Chuyên gia ngân sách quốc phòng Todd Harrison tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) nhận xét: “Nếu chúng ta đã cạn đạn sau vài tuần đánh Iran thì rõ ràng chúng ta không ở gần mức cần thiết để chuẩn bị cho các kịch bản xung đột lớn hơn. Chúng ta chưa bao giờ xây dựng được kho đạn dự trữ tương xứng với các kế hoạch tác chiến, đặc biệt nếu tính đến khả năng phải chiến đấu trong một cuộc chiến tranh quy mô lớn”.
Danh sách mua sắm đầy tham vọng
Trước áp lực đó, Hội đồng Tăng tốc đạn dược (MAC) - cơ quan cấp cao được Lầu Năm Góc lập ra năm 2025 để ưu tiên hóa mua sắm vũ khí - ngày 1/5/2026 đã công bố danh sách 14 loại vũ khí “then chốt” cần được ưu tiên tăng sản lượng gấp. Tổng ngân sách đi kèm vượt 47 tỷ USD. Danh sách này bao gồm 12 loại vũ khí “truyền thống” đã được thực chiến, trong đó nổi bật nhất là 7 tỷ USD cho tên lửa đánh chặn PAC-3 Patriot (với 1.429 quả cho lục quân và 207 quả cho hải quân), 4,8 tỷ USD cho 373 quả đạn THAAD và 1,8 tỷ USD để mua 685 tên lửa hành trình Tomahawk Block V.
Ngoài ra, còn có 2 loại vũ khí “mới nổi” được đưa vào diện ưu tiên, gồm vũ khí tấn công siêu thanh chi phí thấp (RAACM) và tên lửa đạn đạo đất đối đất Precision Strike Missile Increment 1 (PrSM 1) để thay thế dòng ATACMS. Điều đáng chú ý là MAC cam kết ký hợp đồng mua sắm kéo dài tới 7 năm với các nhà thầu, đổi lấy cam kết về tiến độ sản xuất nghiêm ngặt hơn. Nếu không đạt mục tiêu, các công ty phải tự gánh chi phí phát sinh. “Chúng tôi buộc họ phải đặt cược bằng chính nguồn lực của mình”, quan chức phụ trách ngân sách của Lầu Năm Góc, ông Jay Hurst tuyên bố.
Tham vọng đó còn thể hiện rõ hơn ở chương trình tên lửa hành trình chi phí thấp (FAMM) - một dòng vũ khí mới mà không quân Mỹ đang định hướng mua với quy mô chưa từng thấy. Theo tài liệu ngân sách FY2027, gần 27.000 quả FAMM có thể được mua trong những năm tới, với tổng chi phí dự kiến vượt 12 tỷ USD. Sản lượng dự kiến tăng từ 1.000 quả năm 2027 lên gần 8.000 quả mỗi năm vào 2031 - tốc độ tăng trưởng mà ngay cả dòng tên lửa không đối đất JASSM hiện đại cũng không thể sánh kịp.
Bên cạnh đó, quân đội Mỹ cũng tiếp cận cả những nhà sản xuất ô tô dân sự. Các quan chức quốc phòng cấp cao đã gặp trực tiếp CEO của General Motors - bà Mary Barra và CEO của Ford - ông Jim Farley nhằm đề nghị 2 hãng xe xem xét chuyển đổi một phần công suất nhà máy sang sản xuất thiết bị quân sự. Tiền lệ không thiếu: Detroit từng dừng sản xuất ô tô trong Thế chiến II để chế tạo máy bay ném bom và xe tải quân sự theo lời kêu gọi của chính phủ. Lần này, câu trả lời của GM và Ford vẫn chưa được tiết lộ.
Trong một số chiến dịch, quân đội Mỹ sử dụng nhiều Tomahawk hơn hẳn so với khả năng bổ sung. Ảnh: U.S Navy.
Những cam kết vẫn mắc kẹt trên giấy
Lockheed Martin - nhà sản xuất tên lửa PAC-3 lớn nhất, trong cuộc họp với nhà đầu tư cuối tháng 4 cho biết chờ đến khi Lầu Năm Góc được cấp ngân sách chính thức trước khi triển khai mở rộng. Tương tự, Tập đoàn Oshkosh, nhà sản xuất xe bọc thép chở quân cho lục quân Mỹ, cho biết đang chủ động rà soát năng lực có thể đóng góp. Tuy nhiên, hơn 90% doanh thu 10,5 tỷ USD của tập đoàn này đến từ thị trường dân sự, nên việc chuyển đổi quy mô lớn không thể diễn ra trong một sớm một chiều.
Có thể thấy để chuyển đổi một nhà máy ô tô sang sản xuất thiết bị quân sự, hay để Lockheed Martin xây dựng thêm các phân xưởng mới, cần thời gian tính bằng năm chứ không phải bằng tháng.
Theo phân tích của The New York Times, khoảng trống giữa nhu cầu trước mắt và năng lực sản xuất đang được lấp bằng một biện pháp tạm thời: trì hoãn giao hàng cho đồng minh. Ngày 28/4, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth thông báo với Estonia rằng lô hàng 6 hệ thống pháo phản lực HIMARS mà quốc gia Baltic này đã ký hợp đồng mua từ Mỹ sẽ bị hoãn ít nhất vài tháng, do ưu tiên phục vụ chiến trường Iran. Nhiều nước châu Âu và châu Á khác cũng nhận được thông điệp tương tự, theo xác nhận của cả quan chức Mỹ lẫn châu Âu.
Cùng với đó, kho đạn của các Bộ Tư lệnh Mỹ ở châu Á và châu Âu đang bị rút bớt để chuyển về Trung Đông. Ông Jerry McGinn - chuyên gia công nghiệp quốc phòng tại CSIS, cảnh báo: “Sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn vũ khí tạo ra rủi ro trong các kịch bản xung đột tương lai”.
Những biện pháp ngắn hạn trên cũng tác động đến thị trường vũ khí toàn cầu. Các đồng minh bị trì hoãn giao hàng đang nhìn về phía các nhà cung cấp thay thế với sự quan tâm ngày càng rõ hơn. Dữ liệu từ Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) cho thấy các nước NATO ở châu Âu đã có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung vũ khí từ trước khi chiến sự Iran nổ ra.
Một số nền công nghiệp quốc phòng khác như Hàn Quốc - vốn có thể giao hàng nhanh hơn nhiều so với Mỹ - đang hưởng lợi rõ rệt. Nhiều khí tài quân sự của quốc gia Đông Á này nhận được sự quan tâm lớn từ các nước NATO ở châu Âu, đặc biệt với các hệ thống đánh chặn tầm trung được chứng minh có hiệu quả trước các cuộc tấn công drone và tên lửa của Iran, với chi phí chỉ bằng một phần nhỏ so với hệ thống Patriot. Một số nước như Phần Lan, Ba Lan, Na Uy hay Estonia thậm chí đã đặt mua lựu pháo tự hành K9 của Hàn Quốc thay vì chờ đợi cơ hội sở hữu vũ khí tương tự từ Mỹ. Thị trường vũ khí quốc tế đa dạng hơn có thể làm suy yếu đòn bẩy ngoại giao mà Washington kỳ vọng từ chiến lược bán vũ khí cho đồng minh.
Trong khi đó, tại Quốc hội Mỹ, câu chuyện ngân sách vẫn chưa đến hồi kết. Trong phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện ngày 29/4 và Thượng viện ngày 30/4, Bộ trưởng Chiến tranh Hegseth đề xuất gói ngân sách quốc phòng lên tới 1.450 tỷ USD - chưa bao gồm chi phí chiến tranh Iran - và kêu gọi lưỡng đảng phê duyệt.
“Phải có 218 phiếu mới thông qua được dự luật tại Hạ viện”, Hạ nghị sĩ Austin Scott (đảng Cộng hòa) cho biết. Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Tất cả các kế hoạch tăng sản lượng vũ khí đều phụ thuộc một điều kiện tiên quyết: cái gật đầu từ Quốc hội đối với đề xuất ngân sách.
Quang Anh
Nguồn ANTG : https://antgct.cand.com.vn/chuyen-de/lo-hong-hoa-luc-cua-quan-doi-my-i804863/