Là thành phố trẻ, Đồng Nai đang chuyển mình phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đời sống người dân không ngừng nâng cao. Trên hành trình phía trước, Đồng Nai không chỉ hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn gìn giữ và bồi đắp những giá trị nhân văn. Để mỗi bước tiến của thành phố không chỉ đo bằng con số, mà còn bằng chất lượng sống của người dân, sự ấm áp, nghĩa tình của mảnh đất phương Nam rộng mở. Đó cũng là cách Đồng Nai học và làm theo Bác về lòng nhân ái - luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái”. Và cả cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người đã minh chứng cho tình yêu thương con người, biểu tượng cao đẹp của lòng nhân ái Việt Nam. Từ hệ tư tưởng đến những quyết sách sát thực, những việc làm bình dị trong đời sống, Bác Hồ đã luôn dành tình yêu bao la cho nhân dân cả nước.
Học và làm theo Bác về chăm lo đời sống, hạnh phúc của nhân dân là trách nhiệm chính trị và cũng là mục tiêu mà Đảng bộ, chính quyền thành phố Đồng Nai hướng tới.
Sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Người chứng kiến nỗi đau khổ của nhân dân, sự tàn bạo của quân xâm lược và sự bế tắc về đường lối giải phóng dân tộc khi các phong trào yêu nước đương thời liên tiếp thất bại. Tất cả đã thôi thúc Người ra đi tìm con đường cứu nước, giúp đồng bào thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than. 21 tuổi, với tên gọi Văn Ba, Người xin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Amiral Latouche Tréville - một hãng tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách chuẩn bị rời Sài Gòn đi Pháp. Ngày 5-6-1911, với tất cả bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và trái tim nồng nàn yêu nước, từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, mở ra hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân.
Khát khao giúp đồng bào đã hun đúc nên sức mạnh của những bước chân vững vàng nơi đất khách, Người nói: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy” và “Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(1) .
Chính lòng yêu nước, thương dân nồng nàn, sâu sắc đã khởi phát chuyến đi mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Bác và cả vận mệnh dân tộc. Đặc biệt, sự kiện tháng 7-1920, khi tiếp cận được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã tìm ra lý tưởng: “Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2).
Đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã bày tỏ “ham muốn tột bậc” khi trả lời báo chí nước ngoài: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Ham muốn tột bậc ấy thật cao cả nhưng cũng thật giản dị, đó là mang đến những điều nhỏ nhoi nhưng thiết thực đối với mỗi người dân Việt Nam lúc bấy giờ: cơm ăn, áo mặc, học hành...
Theo Tiến sĩ Lê Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị thành phố Đồng Nai, tư tưởng Hồ Chí Minh về lòng nhân ái, yêu thương con người là một hệ thống quan điểm nhân văn sâu sắc, không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà còn biến thành hành động cách mạng. Trước hết, đó là tình yêu thương rộng lớn dành cho mọi tầng lớp nhân dân. Lòng nhân ái của Hồ Chí Minh không biên giới, không phân biệt màu da, dân tộc hay tôn giáo. Bác thấu hiểu nhân dân lao động, những người bị áp bức, bóc lột và khổ đau... Người còn dành sự bao dung cho cả những người lầm đường lạc lối nhưng biết hối cải, tin tưởng vào phần thiện trong mỗi con người để cảm hóa họ.
Đặc biệt, tình yêu thương con người của Bác luôn gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc, mở rộng ra tinh thần đoàn kết quốc tế, yêu chuộng hòa bình. Do đó, tư tưởng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mang giá trị đạo đức mà còn là nền tảng tư tưởng quan trọng trong xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. “Khác với lòng nhân từ tự phát hay sự thương hại thông thường, lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính cách mạng triệt để. Đó là phải đấu tranh để đánh đuổi thực dân, phong kiến, giải phóng nhân dân khỏi ách nô lệ, nghèo nàn và lạc hậu” - Tiến sĩ Lê Nguyễn Thị Ngọc Lan nhấn mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ hết mực trọng dân, thương dân, lo cho dân qua tư tưởng, hành động của cá nhân mình mà còn đào tạo, giáo dục thế hệ kế cận phải có lòng nhân ái, thương dân. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê phán thói hình thức, nhấn mạnh cán bộ phải đi sâu, đi sát thực tế, hiểu dân, gần dân để giải quyết đúng những khó khăn của nhân dân. Người nhấn mạnh: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(3).
Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, và nhất là phải có/phải chú trọng rèn luyện 5 đức tính quý báu. Trong đó có “Nhân: là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ”.
“Trước hết phải yêu dân” - trở thành “ngọn hải đăng” dẫn đường và cũng là lời nhắc nhở luôn nóng hổi giá trị thực tiễn đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong công cuộc phát triển đất nước, chăm lo, phục vụ nhân dân. Bởi theo Người: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi...”(4).
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người không chỉ là đối tượng của sự thương xót mà là chủ thể của lịch sử. Người luôn đề cao phẩm giá con người, tin vào sức mạnh đoàn kết và khả năng sáng tạo của nhân dân. Mọi chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước đều phải lấy lợi ích của nhân dân làm gốc. Lòng yêu thương của Người không nằm trên sách vở mà hiện hữu trong cuộc sống thường nhật. Ngày 28-9-1945, Bác Hồ viết bài kêu gọi Sẻ cơm nhường áo đăng trên tờ Cứu quốc để cứu dân nghèo và Bác là người thực hành trước: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ đạo từng bước hình thành hệ thống chính sách cứu trợ xã hội cụ thể, phù hợp đối với các nhóm xã hội. Đó còn là hình ảnh người lãnh tụ giản dị nhường chiếc áo ấm cho người chiến sĩ đang làm nhiệm vụ; là câu chuyện Bác đến thăm một gia đình nghèo trong đêm Giao thừa của mùa xuân đầu tiên sau ngày nước nhà giành được độc lập (năm 1946)...
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về coi trọng con người, chăm lo hết mực đời sống nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng, cụ thể hóa trong Hiến pháp, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; thể hiện trong từng chế độ, chính sách phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội của đất nước. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cấm vận... Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, tham gia sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đời sống người dân không ngừng được nâng cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”. Việc xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của sự phát triển thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta - một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Đến Đại hội XIV, Đảng xác định rõ những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030. Trong đó có quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững...
Đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, tư tưởng “nhân dân là gốc” càng cho thấy giá trị thực tiễn. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 5 điểm then chốt có ý nghĩa quyết định trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong đó, coi hiệu quả phát triển và sự hài lòng của nhân dân là thước đo cao nhất của việc thực hiện nghị quyết. Đảm bảo mỗi chủ trương, chính sách phải trả lời được câu hỏi cốt lõi: “mang lại lợi ích gì cho đất nước, cho nhân dân và cho tương lai phát triển lâu dài của dân tộc”. Giá trị của nghị quyết không chỉ được khẳng định bằng tính đúng đắn về lý luận, mà phải được kiểm nghiệm bằng chất lượng tăng trưởng, bằng cải thiện đời sống cho nhân dân.
Học tập tư tưởng của Bác về lòng thương dân, trọng dân, đặt người dân ở vị trí trung tâm của phát triển cũng là cách để đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày nay quyết tâm chống chủ nghĩa cá nhân. Chỉ khi có lòng nhân ái, thương dân, cán bộ mới đủ dũng khí và bản lĩnh để nói không với tham ô, lãng phí hay cửa quyền... Mới lấy tình thương yêu đồng chí, đồng bào làm sợi dây gắn kết để cùng đoàn kết phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân trong tiến trình phát triển đất nước. Cũng từ đó sáng suốt hoạch định, chủ động đổi mới, sáng tạo và mạnh dạn triển khai những chính sách nhân văn, hiệu quả để đảm bảo an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt.
Đối với một thành phố trẻ đang chuyển mình mạnh mẽ như Đồng Nai - nơi hội tụ của các khu công nghiệp trọng điểm và dòng người lao động từ khắp mọi miền đất nước, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về lòng nhân ái không chỉ dừng lại ở các phong trào, chăm lo người yếu thế mà còn trở thành kim chỉ nam trong hoạch định chính sách dân sinh. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng Đồng Nai trở thành một đô thị hiện đại, văn minh, đáng sống, giàu bản sắc và có sức vươn lên mạnh mẽ; để mỗi người dân đều được thụ hưởng ngày càng đầy đủ, thiết thực hơn những thành quả của quá trình phát triển.
*(1) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
*(2), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
*(3) Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969.