Lửa đêm đông

Lửa đêm đông
6 giờ trướcBài gốc
Chiều hôm ấy, khi nắng vừa tắt sau bờ tre cuối làng, trong nhà đã dậy mùi cỗ tất niên. Mẹ tôi lụi cụi từ sáng, tự tay chuẩn bị những món quen thuộc: Giò, nem, bát măng ninh, bát thịt đông… bày ra ngoài hiên cho se lại. Không cầu kỳ, nhưng là bữa cỗ đủ đầy theo cách của mẹ, làm để mời người thân, mời khách quý và cũng để khép lại một năm đã qua.
Khi mọi việc bếp núc đã xong, mẹ mới nhóm thêm một bếp lửa giữa sân. Bếp lửa ấy không dùng để nấu nướng, chỉ để mọi người ngồi lại với nhau. Mẹ lựa những thanh củi khô, vài khúc gỗ thơm, có khi là cành lá thảo dược quen dùng trong nhà, đặt gọn vào bếp. Lửa gặp gỗ, reo khẽ, bùng lên rồi lại dịu xuống, tỏa ra mùi thơm rất nhẹ. Khi ngọn lửa lụi sâu, chỉ còn lại những vầng than hồng âm ỉ, ủ lấy hơi ấm, như giữ lại phần tinh túy nhất của một năm dài.
Minh họa: Văn Tĩnh.
Với mẹ tôi, đó đã thành một thói quen từ lâu, nhất là mỗi khi trong nhà có khách. Nhà văn Đỗ Chu sinh ra ở vùng Nếnh, lớn lên từ làng quê, rồi về Bắc Ninh sinh sống, nay ở Hà Nội. Nhưng gốc gác và ký ức thì vẫn ở lại với đất làng. Có lẽ vì thế mà mẹ tôi luôn nhắc mời vợ chồng ông về ăn bữa cơm tất niên, như mời một người con xa quê trở lại ngồi bên bếp lửa cũ, theo nếp sống của quê mình.
Mỗi lần ngồi bên bếp lửa đón khách cùng mẹ, tôi thường nhớ đến những trang văn của Đỗ Chu trong tùy bút “Về quê đốt lửa”, “Quê nhà”. Không phải để nghĩ về văn chương, mà để nghĩ về làng. Trong những trang viết ấy, làng quê hiện lên không ồn ào, chỉ có gió bấc, có ánh lửa xa xa trên sườn núi, có tiếng cuốc kêu lạc mùa, có những cánh đồng vừa đủ cho người ta bám vào mà sống.
Làng quê ấy quen chịu. Chịu rét, chịu đói, chịu chiến tranh, rồi lại chịu cả những đổi thay đến quá nhanh. Người trong làng không nói nhiều về những gì đã qua. Họ sống, làm lụng, nuôi nhau lớn lên, rồi lặng lẽ già đi như một lẽ tự nhiên. Như ngọn lửa đêm đông, không bùng cao, chỉ âm ỉ cháy, đủ để người ta biết mình còn một chỗ ấm mà quay về.
Mẹ tôi ngồi đó. Năm nay mẹ đã chín mươi lăm tuổi. Lưng mẹ đã còng, tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn chậm hơn trước, nhưng hơi ấm từ mẹ thì vẫn vậy. Bên mẹ là vợ chồng nhà văn Đỗ Chu. Không ai nói nhiều. Chỉ có lửa, có mùi khói quen thuộc của những ngày cuối năm. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra, có những bếp lửa không chỉ sưởi ấm một buổi chiều đông, mà sưởi ấm cả một đời người. Và tôi tự hỏi, nếu không có những buổi chiều như thế này, không có bếp than hồng giữa sân, không có mẹ ngồi đợi, thì ký ức của một đời người sẽ bám víu vào đâu để mà ở lại.
Mẹ tôi đã đi qua gần trọn một thế kỷ. Một đời người chồng lên bao lớp biến động của đất nước, của làng quê, của phận người. Nhìn mẹ ngồi bên bếp lửa, có lúc tôi không còn thấy một người phụ nữ cụ thể nữa, mà thấy cả một đời sống đã lặng lẽ trôi qua, bền bỉ với thời gian.
Mẹ sinh ra trong một gia đình đông anh em. Ông ngoại tôi sau khi vợ đầu mất thì đi bước nữa. Mẹ có chín anh chị em cùng cha khác mẹ. Nhưng số phận khắc nghiệt. Những anh chị em ruột của mẹ lần lượt ra đi khi còn rất trẻ vì ốm đau, dịch bệnh. Sinh ra trong một gia đình đông người, cuối cùng mẹ lại lớn lên như một người con một. Sự trớ trêu ấy theo mẹ suốt đời, ký ức về những người thân chưa bao giờ rời xa mẹ, dường như ngày nào mẹ cũng nhắc tới họ.
Ông ngoại tôi làm nghề buôn bán. Không giàu có, nhưng cũng đủ đầy so với làng quê khi ấy. Ông thương con gái. Tuổi thơ của mẹ vì thế không quá vất vả. Mẹ kể, ngày ấy mẹ là một thiếu nữ xinh đẹp trong làng, có nhiều người để ý. Nhưng rồi, mọi ngã rẽ của đời người đều có những đoạn không do mình chọn. Thời buổi “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, mười bảy tuổi, mẹ được gả cho một người trong làng theo lời hứa của ông ngoại.
Mẹ không hợp người ấy. Sau ngày cưới, mẹ xin phép ra đồng cắt cỏ rồi bỏ trốn lên quê ngoại. Một hành động mà thời phong kiến coi là tày đình. Nếu bị tìm thấy, người phụ nữ có thể bị cạo đầu, bôi vôi, bêu riếu trước làng. Nhờ sự che chở của quê ngoại, mẹ ở đó vài năm. Khi hòa bình lập lại, mẹ mới trở về làng. Không ai nhắc lại chuyện cũ. Nhưng những gì đã xảy ra thì lặng lẽ nằm lại trong đời mẹ, như một vết khâu đã liền da nhưng vẫn còn đó.
Bố tôi là bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, trở về làng trong những ngày đất nước vừa bước qua chiến tranh. Hai con người đi qua khói lửa, qua sinh tử, gặp nhau. Họ cưới nhau. Một cuộc hôn nhân bắt đầu từ tro bụi chiến tranh, từ niềm tin rất mộc mạc cùng nhau vượt qua những ngày gian khó.
Bố tôi tham gia công tác ở xã. Mẹ tôi lo ruộng đồng. Từ giải phóng Điện Biên đến ngày thống nhất đất nước, bố mẹ tôi sinh bảy người con, sáu trai, một gái. Anh cả tôi bị bại liệt từ nhỏ rồi mất sớm. Chị gái thứ hai, cũng là chị gái duy nhất của anh em tôi, gần như thay mẹ gánh việc nhà, gánh cả tuổi thơ của chúng tôi.
Chúng tôi lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, nhưng trong mỗi gia đình vẫn còn một cuộc chiến khác, âm thầm và dai dẳng - cuộc chiến với đói nghèo. Cái đói không đến thành cơn mà bám riết lấy từng bữa ăn, từng mùa vụ. Có năm được mùa, thóc trong bồ đầy hơn một chút, cả nhà chỉ kịp thở phào. Có năm mất mùa, giáp hạt kéo dài, cả nhà trông vào khoai, sắn, rau dại ngoài đồng.
Mẹ tôi quen dậy sớm hơn người khác và đi ngủ muộn hơn người khác. Khi chúng tôi còn say giấc, mẹ đã ra đồng; khi chúng tôi đã ngủ, mẹ mới ngồi xuống vá lại manh áo rách bên ngọn đèn dầu.
Chị tôi lớn lên nhanh hơn tuổi. Chị thay mẹ gánh việc, theo bố ra đồng, theo mẹ lo toan bữa ăn, quán xuyến anh em. Chị nhỏ nhắn, nhưng đôi vai sớm quen với gánh nặng. Có những việc tưởng là lớn nhưng chị làm cứ nhẹ tênh, đến nỗi sau này nghĩ lại tôi mới thấy, nếu không có chị, chắc gia đình tôi đã khó đi qua được những năm tháng ấy một cách yên ổn.
Chị lấy chồng sớm, khi chúng tôi còn bé. May mắn, chị lấy chồng trong làng nên vẫn thường xuyên đỡ đần bố mẹ chăm sóc anh em tôi. Chị sinh năm người con, bốn gái, một trai. Có lần tôi hỏi, thời buổi hiện đại rồi sao chị sinh nhiều con cho vất vả. Chị nói nhỏ, như nói với chính mình, nhà chồng chỉ có anh là con trai, nếu không sinh được con trai thì anh có thể phải lấy thêm vợ lẽ, gia đình có nguy cơ tan vỡ. Những câu chuyện ấy bây giờ nghe lại thấy xa, nhưng đó là đời sống thật của một thời chưa xa lắm.
Trong cái nghèo, mẹ và chị tôi không than thở, không trách móc. Có lẽ vì đất làng tôi vốn quen chịu, con người cũng quen chịu. Đồng chiêm mùa nước nổi thì trắng xóa, mùa khô thì nứt nẻ. Người sống trên mảnh đất ấy, nếu không chịu được thì khó mà bám trụ lâu dài. Mẹ tôi chịu theo cách của mẹ. Chị tôi chịu theo cách của chị. Mỗi người giữ một phần, để gia đình được vững, để chúng tôi được học hành.
Rồi đất nước bước vào những năm tháng đổi mới. Chúng tôi được tiếp cận với những cơ hội mà thế hệ trước không có. Anh em tôi lần lượt rời làng, người làm trong biên chế nhà nước, người làm kinh doanh. Cuộc sống dần đủ đầy hơn. Mẹ tôi lúc ấy đã già, nhưng ánh mắt nhẹ đi khi nhìn con cháu lớn lên, có việc làm, có thu nhập ổn định.
Cách đây vài năm, anh em chúng tôi bàn nhau góp sức dựng lại ngôi từ đường. Khi làm bức đại tự treo trên bàn thờ tổ, tôi hỏi ý kiến nhà văn Đỗ Chu. Ông hỏi tôi đã định chữ gì chưa. Tôi không nghĩ lâu. Nhìn cách sống của mẹ, của chị mà suy ra. Tôi nói: Từ - Khiêm - Lễ. Ông gật đầu. Ba chữ ấy rất hay. Mỗi chữ là một đại lượng lớn của đời người. Có trong mình ba chữ ấy là sống được với đời.
Bức đại tự được treo lên. Mỗi lần áp Tết, trước khi ra sân ngồi bên bếp lửa, nhà văn Đỗ Chu thường dừng lại nhìn bức đại tự ấy. Không nói gì. Chỉ đứng nhìn.
Đêm xuống. Lửa cháy. Mẹ tôi ngồi đó. Chị tôi cũng đến, mái đầu chị giờ cũng đã bạc. Vợ chồng nhà văn Đỗ Chu, anh tôi, rồi vài người hàng xóm lần lượt quây quần. Chẳng nói chuyện gì to tát. Không ai cao giọng tổng kết đời mình. Chỉ có những ký ức cũ lặng lẽ trở về như lửa lùi sâu vào than hồng.
Ngọn lửa đang sưởi ấm từng người. Và cũng như ngọn lửa ấy, những con người quanh bếp lửa này đã sưởi ấm tôi suốt chặng đường đời.
Trong cuộc đời làm báo, tôi đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người. Ở đâu tôi cũng gặp những mẹ, những chị như thế. Đó là những con người không xây công trình lớn, không có đề tài khoa học làm thay đổi thế giới. Nhưng lại là những người, bằng sự tử tế, nhẫn nại, thủy chung, đã tạo nên thứ vốn xã hội bền bỉ nhất của đất nước này, dân tộc này. Thứ vốn không ghi trong báo cáo, không đo bằng tiền, nhưng nếu mất đi thì xã hội sẽ lạnh rất nhanh.
Bếp lửa đêm đông âm ỉ vẫn cháy. Mẹ tôi vẫn ngồi đó. Lửa không rực rỡ, nhưng đủ ấm. Và tôi hiểu, có những ngọn lửa không bao giờ tắt, vì chúng được nuôi bằng tình thương, bằng hy sinh, bằng một đời người lặng lẽ mà kiên cường.
Tùy bút của Trần Đức
Nguồn Bắc Ninh : https://baobacninhtv.vn/lua-dem-dong-postid438862.bbg