Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi sinh sống của khoảng 18 triệu người, với sinh kế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, phần lớn phụ thuộc môi trường tự nhiên. Tuy nhiên hầu như toàn bộ các vùng đất ngập nước tự nhiên trong khu vực đã bị mất trong bối cảnh canh tác lúa thâm canh chiếm ưu thế. Nhìn tà áo dài mộc và duyên với những nét gân vải mang sắc màu thổ cẩm, thật dễ cảm xúc hơn khi biết đây là chiếc áo dài được dệt thủ công từ tơ sen và bởi kỹ thuật dệt thổ cẩm truyền thống của người Khmer vùng Bảy Núi - An Giang.
Từ những thước lụa tơ sen…
Áo thơm thoảng nhẹ hương sen kín đáo. Tơ sen sau khi được khéo léo kéo từ cuống, miết thành sợi, xe sợi, thì được đưa vào khung cửi dệt cùng tơ tằm. 70% tơ sen và 30% tơ tằm. Tơ sen để mộc tự nhiên, tơ tằm đã được phơi nắng, nhuộm từ nguyên liệu thiên nhiên với màu vàng ấm - một trong bốn sắc cơ bản và đặc trưng trong thổ cẩm người Khmer. “Tơ sen dệt khó hơn tơ tằm nhưng lụa tơ sen mát hơn cả lụa tơ tằm”, bà Neáng Chanh Ty, nghệ nhân làng dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo, Tịnh Biên - An Giang, người đã dệt lụa tơ sen cho biết.
Chị Neàng Chanh Đa Ty, làng dệt thổ cẩm Khmer, ấp Sray Skot, xã Văn Giáo, Tịnh Biên (An Giang) đang kéo sợi tơ sen sau thời gian học miết tơ sen từ dự án. Kỹ thuật sản xuất sợi sen tuy yêu cầu dụng cụ đơn giản nhưng đòi hỏi kỹ năng cũng như tốc độ trong lúc cắt và kéo miết tơ từ cuống cây sen. Điều quan trọng nhất trong lúc thực hiện là phải luôn giữ sợi và cuống cây sen ẩm, bởi nếu không sợi sen sau khi tách và miết sẽ không khỏe và dễ tách rời khi dệt.
Đây cũng là những thước lụa tơ sen đầu tay của các cô, các chị vùng ĐBSCL tham gia lớp tập huấn kỹ thuật kéo miết tơ sen - nằm trong một dự án liên quan do Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tại Việt Nam thực hiện tại một số tỉnh.
Khác với chiếc áo dài mang nét thổ cẩm Khmer, khăn lụa tơ sen của Hanhsilk giữ màu nguyên bản với tỷ lệ 50% tơ sen và 50% tơ tằm. Lụa tơ sen tự nhiên có màu mộc kem nâu. Để có màu trắng sáng, phải tăng tỉ lệ tơ tằm trong vải. Hanhsilk là một trong số ít đơn vị đang thu mua tơ sen tham gia dự án của IUCN.
Bà Lương Thanh Hạnh, giám đốc Hanhsilk, cho biết khăn lụa tơ sen hiện đã được bán cả trong và ngoài nước. Bên cạnh nguồn thu mua, Hanhsilk cũng tổ chức trồng sen lấy tơ để đủ nguyên liệu. “Chất lượng tơ sen từ các chị ở ĐBSCL tốt và đạt được độ se săn chắc. Chúng tôi mong có nguồn nguyên liệu ổn định”, bà Hạnh nói.
Lụa tơ sen - một dòng sản phẩm cao cấp - không phải quá mới lạ mà đã được phát triển ở Myanmar, Campuchia, Bangladesh, Ấn Độ… Myanmar có lịch sử dệt lụa sen hơn 100 năm, nguồn nguyên liệu chủ yếu là sen tự nhiên. Để được 1kg tơ sen phải dùng khoảng 50.000 cọng sen (4 tấn). Giá lụa sen dao động 1.000 - 3.500 USD/kg, tùy thuộc chất lượng và vùng. Lụa sen ở Myanmar được xuất sang Trung Quốc, Nhật Bản, Ý và bán một ít cho du khách.
Ở Việt Nam, có thể nói lụa tơ sen lần đầu được dệt thành công bởi nghệ nhân Phan Thị Thuận ở Phùng Xá, một làng nuôi tằm dệt lụa truyền thống tại Hà Nội. Vài năm gần đây, thị trường xuất hiện lụa sen Đồng Tháp, Hanhsilk... nhưng nhìn chung còn nhỏ lẻ, hạn chế.
Phát triển chuỗi giá trị bền vững các sản phẩm từ tơ sen là một hợp phần nối dài từ dự án thí điểm các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi như trồng sen thâm canh, sen - lúa, sen - cá - lúa, trồng sen lấy ngó, củ, gương… của IUCN nhằm góp phần hạn chế lúa ba vụ và bảo tồn, phục hồi chức năng trữ nước vùng ĐBSCL. Hoạt động rút tơ sen và tạo sản phẩm từ tơ sen được kỳ vọng tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ. “Chúng tôi tìm kiếm đối tác kết nối các bên, hiện đang thử làm sản phẩm hoàn chỉnh và chào hàng” - TS. Nguyễn Thanh Phong, Quản lý chương trình cho biết.
… đến nỗ lực quay về kiến thức, sáng tạo bản địa
Không chỉ tơ/lụa sen, nhiều sản phẩm khác từ các mô hình sinh kế dựa vào lũ do một số tổ chức quốc tế hỗ trợ phát triển ở ĐBSCL nhiều năm qua, hoặc cho thấy tiềm năng, hoặc đã phát triển được thị trường (trong thực phẩm, y học cổ truyền, du lịch...). Đây là hệ quả xuất phát từ thực trạng hệ sinh thái vùng thượng nguồn ĐBSCL ngày càng bị suy thoái và suy giảm nghiêm trọng. Nhiều báo cáo chỉ ra nguyên nhân chính là do việc xây dựng hệ thống đê bao khép kín để canh tác lúa ba vụ, lạm dụng phân bón, hóa chất nông nghiệp cũng như các phương thức quản lý nước chưa phù hợp.
Một số sản phẩm làm từ lụa tơ sen được dệt thủ công bởi kỹ thuật dệt thổ cẩm truyền thống của người Khmer vùng Bảy Núi. Ảnh: Nguyễn Võ Lâm
Mùa nước nổi là hiện tượng lũ tự nhiên, một “món quà” thiên nhiên ở ĐBSCL. Không chỉ mang theo những sản vật thiên nhiên giúp người dân vùng lũ tăng thu nhập, cải thiện đời sống, lũ về còn giúp rửa trôi phèn, độc tố từ thuốc trừ sâu, ruộng đồng được bồi tụ thêm phù sa, nghỉ ngơi, góp phần tiêu diệt các loại kí sinh gây bệnh... Tuy nhiên việc xây dựng đê cao, có nơi lên tới 5m so với mặt ruộng (để kiểm soát lũ triệt để nhằm tăng cường sản xuất lúa từ hai vụ lên ba vụ mỗi năm) trong suốt 25 năm qua đã thay đổi hoàn toàn chế độ thủy văn.
Dữ liệu thống kê chỉ ra tổng lượng nước lũ đổ vào đồng bằng đã giảm gần một nửa giai đoạn 2000 - 2011. Tại tứ giác Long Xuyên, diện tích ngập lũ đã thu hẹp 42% (tương đương 110.000 ha), làm đứt gãy dòng chảy phù sa và nguồn lợi thủy sản tự nhiên - vốn là nền tảng sinh kế của cộng đồng.
Trong bối cảnh hệ sinh thái bị tổn thương do canh tác lúa thâm canh, các hoạt động nông nghiệp thích ứng lũ được xem là giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) phù hợp và bền vững, hỗ trợ phát triển đa dạng sinh học, cải thiện chất lượng đất và nước, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái... Điều này đặc biệt quan trọng khi các khu bảo tồn thiên nhiên chính thức hiện nay chiếm chỉ khoảng 2% diện tích đất ĐBSCL. Do đó, tiềm năng bảo tồn lớn nhất nằm ở chính những cảnh quan nông nghiệp đang chuyển đổi này.
Thu hoạch củ sen của người dân ở khóm Châu Long 8, phường Vĩnh Tế, An Giang.
Sau Nghị quyết 120 năm 2017, khi chính sách lúa gạo đã thay đổi và ứng xử với đồng bằng theo hướng “thuận thiên”, những mô hình canh tác dựa vào mùa lũ bắt đầu được các tỉnh thượng nguồn ĐBSCL ủng hộ, quan tâm nhiều. Tuy nhiên chính quyền địa phương lại không có nhiều kinh nghiệm với các loại hình canh tác dựa vào mùa lũ. Đa phần đều là kiến thức, sáng kiến của nông dân ở quy mô nhỏ mới được ghi nhận và tài liệu hóa những năm gần đây.
Nghiên cứu của nhóm tác giả TS. Dương Văn Ni (Đại học Cần Thơ) công bố tháng 1.2026 (1) cho thấy các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng lũ tại Long An, Đồng Tháp và An Giang trong cả mùa mưa và mùa khô, đặc biệt là các mô hình liên quan đến sen (sen thâm canh, lúa - sen) và lúa mùa nổi, có khả năng hỗ trợ, phục hồi đa dạng sinh học cao hơn đáng kể so với mô hình lúa ba vụ trong hệ thống đê bao khép kín. Các mô hình này còn thể hiện tiềm năng tích cực trong việc cải thiện chất lượng đất - nước, tăng khả năng trữ nước, hấp thụ và lưu trữ carbon.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy các mô hình thích ứng lũ ghi nhận thành phần loài phong phú hơn, chỉ số đa dạng sinh học cao hơn và cấu trúc quần xã sinh vật ổn định hơn, đặc biệt đối với các nhóm sinh vật nhạy cảm với điều kiện thủy văn như phiêu sinh động vật và động vật đáy. Mô hình lúa ba vụ cho thấy mức độ đa dạng sinh học thấp nhất, quần xã sinh vật đơn giản, biến động lớn theo mùa và chịu tác động mạnh từ hoạt động canh tác thâm canh cũng như quản lý nước nhân tạo. Điều này phản ánh những hạn chế sinh thái của mô hình kiểm soát lũ tuyệt đối, vốn đã làm suy giảm các chức năng sinh thái tự nhiên của vùng trũng ngập nước.
Nhưng, dù lợi ích đa chiều của nông nghiệp dựa vào lũ được thừa nhận rộng rãi, động lực chính để nông dân áp dụng các mô hình này vẫn là lợi nhuận. Việc mở rộng quy mô cây trồng dựa vào lũ phụ thuộc lớn vào quy mô và sức hấp thụ của thị trường.
Ông Trần Minh Vương, khóm Châu Long 8, phường Vĩnh Tế, An Giang đã có ba năm liên tục trồng sen lấy củ sau nhiều năm trồng lúa. Cùng một vụ dài 100 ngày trên 2,1 ha ruộng, ông Vương thu được lợi nhuận gấp đôi, gấp ba so với lúa. “Sau khi trừ hết chi phí, tui lời 30 - 60 triệu đồng/vụ sen. Trồng lúa bấp bênh hơn trồng sen. Lúa có khi bị lỗ, trúng dữ lắm thì được 10 - 15 triệu đồng/vụ”, ông Vương cho biết.
Ông Năm, người đầu tiên ở khóm Châu Long 8, phường Vĩnh Tế, An Giang chuyển từ trồng lúa thâm canh sang trồng sen thâm canh đã 10 năm nay.
Ngoài phân bón NPK, ruộng sen ông Vương hầu như không dùng thuốc bảo vệ thực vật. Đánh giá của ông Nguyễn Ngọc Khải, trưởng trạm kỹ thuật khu vực Tân Châu, An Giang, chi phí trồng sen của ông Vương thấp hơn 15 - 25% so với chi phí người dân trồng sen bình thường phải bỏ ra hiện nay. Củ sen to, năng suất cao nên lợi nhuận nhiều.
Nhưng dù vậy, ông Vương không giấu “nếu trồng sen không còn trúng, sẽ bỏ sen”. Đây không phải nỗi lo vu vơ. Thực tế, nhiều hộ dân ở các tỉnh thượng nguồn từng chuyển từ lúa sang sen nhưng vào năm lúa được giá hơn sen, sen lại bị dịch bệnh nhiều, họ phá ruộng sen quay lại với lúa.
Hay sự hỗ trợ phát triển từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông thôn (RCRD), Đại học An Giang và Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) vào đầu những năm 2010 đã chứng minh hiệu quả kinh tế của canh tác lúa mùa nổi có thể cao gấp hai đến ba lần nếu kết hợp với các cây trồng ngắn ngày như kiệu, ớt… Điều này giúp diện tích lúa mùa nổi còn lại ở ĐBSCL sau năm 1975 từ hơn 60 ha tăng lên 250 ha. Tuy nhiên đợt hạn hán năm 2015 - 2016 và lũ năm 2018 đến sớm hơn 2 tuần đã khiến lúa mùa nổi bị thiệt hại nghiêm trọng, nông dân mất niềm tin, tổng diện tích lúa mùa nổi lần nữa giảm xuống còn dưới 100 ha.
Báo cáo từ IUCN, một tiếp cận quan trọng nhằm giải quyết các hạn chế về thị trường và rủi ro là đa dạng hóa cây trồng cả trong mùa khô và mùa lũ (ví dụ tích hợp nuôi trồng thủy sản với cây trồng mùa lũ như sen hoặc lúa nổi). Nhưng quan trọng nhất vẫn là cần hoàn thiện tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ nông dân kiến thức, năng lực chuyển đổi linh hoạt phù hợp với điều kiện môi trường và tín hiệu thị trường, đào tạo năng lực cán bộ khuyến nông địa phương...
Trả lại không gian cho nước
Câu chuyện chuyển đổi ở ĐBSCL không chỉ dừng lại ở sinh kế dựa vào mùa lũ mà còn là vấn đề của quy hoạch. Sau trận lũ lịch sử năm 2000, nước lũ ngày càng ít dần trên sông Cửu Long kéo theo sự suy giảm nguồn cá tự nhiên và lượng phù sa. Trận lũ bất ngờ năm 2011 dù không phải cơn lũ lịch sử ở ĐBSCL (2) nhưng lại gây hậu quả nghiêm trọng khiến 85 người chết, tổng thiệt hại vật chất lên tới trên 4.000 tỷ đồng đã đánh dấu một bước ngoặt, mở ra nhiều cuộc đối thoại trong giới chuyên môn và các cơ quan nhà nước, buộc Chính phủ phải đánh giá lại chính sách đê cao triệt để, lúa ba vụ, chiến lược quy hoạch vùng và phát triển nông nghiệp ĐBSCL. Đê cao không chỉ gây đứt gãy dòng chảy phù sa và nguồn lợi thủy sản tự nhiên mà còn làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt ở các khu vực không được bảo vệ.
Một tuyến đường thuộc vùng đầu nguồn của An Giang bị lũ năm 2011 gây sạt lở. Ảnh: Thanh Mai
“Các tỉnh vùng giữa đồng bằng như Cần Thơ, Vĩnh Long… bị ngập nặng. Một phần do quá nhiều đê bao triệt để khiến đường đi tự nhiên của lũ bị thu hẹp, nước dâng cao và chảy xiết hơn. Nhiều người cho rằng, ngày xưa vùng châu thổ này chỉ có mùa nước nổi, lũ năm 2011 mới thực sự là lũ lụt vì nước chảy xiết trên những dòng hẹp chẳng khác gì lũ quét ở miền cao” - PGS-TS. Lê Anh Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ nhớ lại.
Nhưng trận lũ năm 2011 cũng cho thấy trừ những nơi bị vỡ đê làm chết lúa vụ ba, những cánh đồng khác “được” ngập lụt, đón nhận phù sa đã cho vụ thu đông sau đó bội thu, trúng mùa, trúng giá. “Vấn đề đã vượt quá tầm tay người nông dân, cần vai trò lớn hơn nằm ở Nhà nước: phải định vị lại không gian theo chế độ nước”, TS. Dương Văn Ni nhận định. Quy luật “tháng 7 nước nhảy khỏi bờ” đã không còn. Từ 2011 tới nay, xu hướng mùa lũ thường trễ hơn 1 tháng, còn lượng nước về đã mất hết quy luật theo tự nhiên.
Theo TS. Dương Văn Ni, ĐBSCL cần tiến tới những khu vực gọi là “room for the delta” - không gian cho đồng bằng. Ngay quốc gia nổi tiếng với hệ thống công trình thủy lợi khổng lồ, có công nghệ tiên tiến và nguồn lực tốt như Hà Lan sau gần một thế kỷ phát triển, cuối cùng phải nhìn lại và quy hoạch lại theo chiến lược “room for the river”. Hệ thống đê, công trình thay vì xây sát mé sông thì lùi lại, trả lại và tạo không gian cho nước ra vô tự do vào mùa lũ. Nhà nước không đầu tư để ngăn ngập nước ở những không gian này nữa. Nông dân vẫn có quyền canh tác tại đây nhưng không được nhận bảo hiểm cây trồng, vật nuôi.
TS. Ni khuyến nghị, những khu vực ở ĐBSCL có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế chung hay những khu vực phục vụ lợi ích cộng đồng lâu dài như trường học, bệnh viện... phải đầu tư đúng mức để kiểm soát triệt để vấn đề ngập nước. Còn lại những khu vực mà sự đóng góp vào nền kinh tế chung không quá lớn thì nên có lộ trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhà ở, hệ thống giao thông... theo hướng giảm dần mật độ dân cư để tiến tới việc phục hồi lại những không gian trữ nước. Các hệ thống đê bao, cống hiện nay cần được đánh giá lại.
“Điều quan trọng, trong quy hoạch thủy lợi, vùng lũ, cần nhìn đúng bản chất của nước ở cả số lượng, chất lượng và thời gian. Hiện nay khi tính toán quy hoạch và xây dựng, chúng ta chỉ mới nhìn nước là số lượng tính bằng thể tích”, TS. Ni nhấn mạnh.
Ông giải thích ngập úng ở ĐBSCL có đặc trưng rất khác nhau giữa các tiểu vùng trong đồng bằng, đặc biệt là không thể phân chia theo địa giới hành chính. Bản chất thời gian của nước - trước khi đạt đỉnh và sau khi đạt đỉnh - mỗi nơi mỗi khác. Tùy vào vị trí địa hình, ảnh hưởng bởi thủy triều, mùa gió, hay mức độ giao thoa sông - biển… mà có những tỉnh ngập sâu, ngập nhanh nhưng rút nhanh, có những tỉnh ngập lên chậm, độ sâu thấp nhưng kéo dài; hay ở vùng đầu nguồn ngập lũ mang tính mùa vụ rõ rệt, nước lên từ từ (mùa nước nổi) và rút chậm, kéo dài từ một đến hai tháng, gắn liền với chế độ lũ tự nhiên của sông Mekong.
Sự biến đổi chế độ nước ở ĐBSCL hiện nay không chỉ bởi biến đổi khí hậu mà còn bởi hàng loạt công trình thủy điện, chuyển nước và khai thác tài nguyên ở thượng nguồn sông Mekong đã làm thay đổi dòng chảy, giảm phù sa và điều chỉnh nhịp lũ tự nhiên. Còn trong nội tại đồng bằng, mô hình phát triển nông nghiệp thâm canh, đặc biệt là sản xuất lúa quy mô lớn, cùng hệ thống đê bao khép kín và cống đập ngăn mặn đã làm xáo trộn quy luật thủy văn tự nhiên của hệ thống sông rạch ở đồng bằng.
Hệ quả là người dân không thể dựa vào kinh nghiệm vốn có để có thể đoán biết lúc nào nước lên xuống, năm nay nước ngập sớm hay trễ, rút nhanh hay chậm. Việc xáo trộn quy luật tự nhiên dẫn đến nhiều nơi vừa thiếu nước ngọt vào mùa khô, vừa ngập úng nghiêm trọng vào mùa mưa, làm cho người dân luôn bị động trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, mùa vụ canh tác và sắp xếp chuyện sinh kế hàng ngày.
Tà áo dài lụa tơ sen, những sản phẩm tôm, cua, cá, lúa, sen “thuận thiên” hay những tour du lịch sinh thái đậm nét văn hóa, sinh kế vùng sông nước... sẽ góp phần cho sự phát triển bền vững ở ĐBSCL - vùng châu thổ lớn nhất Việt Nam, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nông nghiệp quốc gia.
Bài và ảnh: Lê Quỳnh
__________________
(1) Nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái của các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng với lũ ở vùng thượng ĐBSCL tại Long An, Đồng Tháp và An Giang trong cả mùa mưa và mùa khô của nhóm tác giả Dương Văn Ni công bố tháng 1.2026. Nghiên cứu tập trung vào khảo sát các chỉ thị sinh học (thực vật, thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy và các loài thủy sản), đo lường tổng lượng hấp thụ và lưu trữ carbon, đồng thời phân tích các dịch vụ hệ sinh thái (như điều tiết nước và bồi lắng phù sa) mà mỗi mô hình cung cấp
(2) Theo số liệu của Ủy hội sông Mekong (MRC), tổng lượng lũ từng thời đoạn và mực nước đỉnh lũ năm 2011 thấp hơn trận lũ lịch sử năm 2000. Tổng lượng lũ từng thời đoạn trong năm 2011 tại Tân Châu (sông Tiền) và Châu Đốc (sông Hậu) vẫn còn thấp hơn năm 2000 từ 75 - 85%. Mực nước đỉnh lũ năm 2000 tại Tân Châu và Châu Đốc lần lượt là 5,06m và 4,90m, trong khi đó mực nước đỉnh lũ năm 2011 lần lượt là 4,78m và 4,23m (số liệu của MRC ngày 10.10.2011).