Tài xế xe công nghệ vận chuyển hành khách ở Indonesia. Ảnh: AFP
Nền tảng kỹ thuật số là doanh nghiệp gì? Pháp luật chưa có câu trả lời!
Ngày 1-5-2026, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto ký nghị định áp trần chiết khấu các nền tảng gọi xe ở mức 8%, giảm mạnh so với mức 20% mà các nền tảng lớn đang thu của tài xế. Ông tuyên bố thẳng: “Tài xế là người đổ mồ hôi, nhưng nền tảng lại là bên nhận tiền”. Cảnh tượng đó ở Việt Nam chưa xảy ra. Nhưng câu hỏi pháp lý phía sau thì đã có và đang chờ lời giải.
Tại Việt Nam hiện nay, các nền tảng kỹ thuật số đang chi phối ngày càng sâu rộng nhiều lĩnh vực: gọi xe và giao đồ ăn, thương mại điện tử, dịch vụ lưu trú, dọn dẹp vệ sinh, cho vay ngang hàng... Điểm chung của tất cả: Nền tảng không trực tiếp sản xuất hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, họ tạo ra ứng dụng kết nối người cung cấp với người sử dụng và thu một khoản phí trên mỗi giao dịch.
Kinh nghiệm Indonesia cho thấy áp trần phí dịch vụ bằng mệnh lệnh hành chính là can thiệp vào triệu chứng, không phải bệnh căn. Rủi ro rõ ràng: nếu lợi nhuận không đủ, nền tảng sẽ thu hẹp hoặc rút lui, người lao động mất việc, người tiêu dùng mất lựa chọn. Vấn đề gốc rễ là cấu trúc thị trường và đó là việc của pháp luật cạnh tranh, không phải quyết định hành chính.
Câu hỏi pháp lý đầu tiên tưởng đơn giản: Các nền tảng kỹ thuật số này thuộc loại doanh nghiệp gì? Câu trả lời sẽ quyết định toàn bộ khung pháp lý áp dụng.
Nếu là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trực tiếp, các luật chuyên ngành điều chỉnh như: Luật Giao thông đường bộ với hoạt động vận tải, Luật Thương mại với hoạt động mua bán hàng hóa... Nếu là đơn vị cung cấp dịch vụ công nghệ trung gian thì khung pháp lý hoàn toàn khác.
Pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp truyền thống được xây dựng trên giả định người kinh doanh trực tiếp cung ứng dịch vụ: có tài sản, có nhân lực, chịu trách nhiệm về kết quả. Các nền tảng kỹ thuật số vận hành theo cơ chế khác về bản chất: họ không sở hữu phương tiện vận tải, không tuyển dụng tài xế hay người giao hàng theo quan hệ lao động, không trực tiếp bán hàng hóa mà chỉ cung cấp ứng dụng kết nối và thu phí trên mỗi giao dịch thành công.
Sự mơ hồ này kéo theo hàng loạt câu hỏi tiếp theo: Những người lao động trên nền tảng (tài xế, người giao hàng, người cung cấp dịch vụ...) là người lao động, đối tác độc lập, hay một loại chủ thể chưa được pháp luật định danh? Khoản phí mà nền tảng thu là giá dịch vụ công nghệ thông thường hay phí khai thác vị trí độc quyền? Mỗi câu trả lời dẫn đến một bộ công cụ pháp lý khác nhau.
Quan hệ giữa nền tảng kỹ thuật số và người lao động trên nền tảng mang đặc điểm của quan hệ lao động, quan hệ thương mại và quan hệ cạnh tranh nhưng không hoàn toàn thuộc loại nào. Đây là vùng xám mà pháp luật Việt Nam chưa lấp đầy.
Tính thị phần nền tảng theo cách nào? Mỗi cách một kết quả khác nhau!
Luật Cạnh tranh 2018 xây dựng toàn bộ hệ thống kiểm soát việc thống lĩnh thị trường, tập trung kinh tế, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên một nền tảng duy nhất: thị phần. Không xác định được thị phần, không kích hoạt được bất kỳ cơ chế nào.
Thị phần của một nền tảng kỹ thuật số được tính theo cách nào? Theo doanh thu phí dịch vụ thu được? Theo số người cung cấp dịch vụ đăng ký? Theo số giao dịch hoàn thành? Theo số người dùng hoạt động? Mỗi cách tính cho kết quả khác nhau và có thể dẫn đến kết luận pháp lý trái ngược nhau. Điều 9 Luật Cạnh tranh 2018 và Nghị định 35/2020/NĐ-CP xác định thị trường liên quan dựa trên khả năng thay thế sản phẩm từ phía cầu và cung. Phương pháp này được thiết kế cho thị trường một chiều, nơi người mua và người bán rõ ràng.
Nền tảng kỹ thuật số là thị trường hai chiều: một bên là người sử dụng dịch vụ (hành khách, người mua hàng, khách đặt phòng...), một bên là người cung cấp dịch vụ (tài xế, người bán hàng, chủ cơ sở lưu trú...). Hai nhóm tương tác qua nền tảng và tạo giá trị cho nhau. Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (VCCA) chưa từng xử lý vụ việc nào liên quan đến nền tảng số. Không có hướng dẫn, không có án lệ, không có phương pháp luận thống nhất cho loại thị trường này.
Hệ quả là ngưỡng 30% thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường theo điều 24 Luật Cạnh tranh 2018, dù tính theo cách nào, chưa chắc phản ánh đúng sức mạnh thị trường thực sự của nền tảng. Một nền tảng có thể có thị phần doanh thu dưới 30% nhưng nắm giữ cơ sở dữ liệu người dùng lớn nhất, vận hành thuật toán phân phối đơn hàng mà người cung cấp dịch vụ không thể từ chối nếu muốn có thu nhập ổn định.
Điều 27 Luật Cạnh tranh 2018 liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhưng không đề cập định giá động theo thuật toán, phân phối đơn hàng phân biệt đối xử, hay cơ chế đánh giá không minh bạch ảnh hưởng đến cơ hội kiếm việc của người lao động trên nền tảng.
Nguy hiểm hơn, nền tảng kỹ thuật số ấn định giá đồng thời với cả hai nhóm. Với người sử dụng dịch vụ, nền tảng ấn định giá thông qua thuật toán, người dùng không thương lượng được. Với người cung cấp dịch vụ, nền tảng ấn định tỷ lệ phí thu mà người cung cấp cũng không thương lượng được.
Doanh thu của nền tảng là hiệu số giữa giá thu từ người dùng và phần trả lại cho người cung cấp sau khi trừ phí: nền tảng kiểm soát cả hai vế - không có bên nào có thể can thiệp. Nền tảng có thể tăng giá dịch vụ mà không tăng thu nhập người cung cấp, hoặc tăng tỷ lệ phí mà không giảm giá cho người sử dụng. Đây là cấu trúc quyền lực thị trường khác hoàn toàn so với doanh nghiệp truyền thống vốn chỉ ấn định giá với một nhóm và chịu áp lực cạnh tranh từ phía đó.
Hành vi này thuộc phạm vi điều 27 Luật Cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, cụ thể là khoản 2 về áp đặt điều kiện bất hợp lý. Nhưng để áp dụng điều 27 này, trước hết phải xác định được vị trí thống lĩnh thị trường. Để xác định vị trí thống lĩnh, phải có thị phần. Để có thị phần, phải xác định được thị trường liên quan. Và thị trường liên quan cho thị trường hai chiều thì chưa có hướng dẫn.
Vòng luẩn quẩn pháp lý: không có thị trường liên quan thì không tính được thị phần. Không tính được thị phần thì không xác định được vị trí thống lĩnh thị trường. Không xác định được vị trí thống lĩnh thị trường thì điều 27 Luật Cạnh tranh 2018 không thể áp dụng.
Mua lại startup ngàn tỉ, VCCA có biết không?
Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018 và điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định nghĩa vụ thông báo tập trung kinh tế khi giao dịch vượt một trong ba ngưỡng: tổng doanh thu tại Việt Nam của bên bị mua từ 3.000 tỉ đồng, tổng tài sản tại Việt Nam của bên bị mua từ 3.000 tỉ đồng, hoặc giá trị giao dịch mua lại từ 1.000 tỉ đồng.
Luật Cạnh tranh 2018 chưa có cơ chế nào buộc khai báo dựa trên giá trị kinh tế thực của giao dịch, tức giá mà bên mua thực sự sẵn sàng trả để kiểm soát bên bị mua. Một nền tảng lớn hoàn toàn có thể mua lại đối thủ tiềm năng trước khi đối thủ đó đủ lớn để đe dọa vị trí thống lĩnh thị trường, mà VCCA không hay biết. Với startup công nghệ, cả ba ngưỡng trên dễ dàng có thể bị vô hiệu hóa:
- Ngưỡng doanh thu. Đây là tiêu chí dễ “lọt” nhất. Doanh nghiệp startup là doanh nghiệp đang ở giai đoạn tăng trưởng nhanh nhưng thường chưa có doanh thu lớn, thậm chí đang “đốt” tiền để chiếm thị phần. Hàng triệu người dùng, giá trị thị trường lớn nhưng doanh thu vẫn dưới 3.000 tỉ đồng.
- Ngưỡng tài sản. Tiêu chí này cũng không phản ánh được thực chất. Giá trị cốt lõi của startup công nghệ nằm ở dữ liệu người dùng, thuật toán, thương hiệu và tiềm năng phát triển... Những thứ này không được ghi nhận đầy đủ trên bảng cân đối kế toán theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Tài sản ghi sổ có thể rất nhỏ trong khi giá trị kinh tế thực rất lớn.
- Ngưỡng giá trị giao dịch. Tiêu chí này gần thực tế nhất nhưng vẫn có khe hở. Khi cả hai bên đều có công ty liên kết ở nước ngoài, phần lớn giá trị giao dịch thực tế có thể được xử lý ở cấp công ty mẹ offshore, còn hợp đồng ghi nhận tại Việt Nam chỉ phản ánh một phần nhỏ dưới ngưỡng 1.000 tỉ đồng.
(*) Giám đốc Công ty Luật TNHH Thế Giới Luật Pháp
LS. Phùng Thanh Sơn (*)