Kinh phí cho công tác chuyển giao do ngân sách nhà nước bảo đảm
Giới thiệu những điểm mới của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quốc Hùng cho biết, Luật đã bám sát các chủ trương của Đảng về hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp và tăng cường hội nhập quốc tế. Đồng thời, thể hiện tư duy đổi mới, khắc phục được các vướng mắc, bất cập của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và đáp ứng yêu cầu công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong tình hình mới.
Luật gồm 4 chương, 48 điều, trong đó, xây dựng mới 18 điều, sửa đổi, bổ sung nội dung 14 điều, bỏ 5 điều so với quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 trong lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quốc Hùng giới thiệu những điểm mới của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Ảnh: H.Ngọc
Luật tiếp tục khẳng định Bộ Công an là cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời quy định trách nhiệm quan trọng nhất của Bộ Công an là việc lập các yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án từ nước ngoài về Việt Nam và ngược lại.
Theo Luật, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Luật quy định cụ thể hơn về điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Điều 6, trong đó Bộ Công an được giao chủ trì xem xét việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại thay cho Bộ Ngoại giao. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.
Luật cũng bổ sung quy định việc chuyển giao, tiếp nhận các tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Bộ Công an với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án nhân dân có thẩm quyền có thể được thực hiện trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia và đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác.
Về thẩm quyền xem xét tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Tòa án nhân dân khu vực nơi người được đề nghị có nơi thường trú cuối cùng (trường hợp tiếp nhận về Việt Nam) hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án (trường hợp chuyển giao cho nước ngoài) sẽ quyết định việc tiếp nhận/chuyển giao. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét khi có kháng cáo, kháng nghị.
Một điểm mới tương đối quan trọng liên quan đến vấn đề tài chính trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là, quy định kinh phí cho công tác chuyển giao do ngân sách nhà nước bảo đảm trong mọi trường hợp (khác với trước đây chỉ bảo đảm khi Việt Nam là nước yêu cầu).
Đồng thời, quy định người đang chấp hành án phạt tù hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và các chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật.
Bổ sung trình tự phúc thẩm quyết định tiếp nhận chuyển giao
Luật mở rộng đối tượng người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam được chuyển giao cho nước ngoài, bao gồm cả người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ do Bộ Quốc phòng quản lý tại Điều 37.
Về điều kiện tiếp nhận, chuyển giao, Luật bỏ điều kiện người về Việt Nam phải có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam và bỏ điều kiện thời hạn tù còn lại phải ít hơn 6 tháng.
Bổ sung một số trường hợp từ chối tiếp nhận người về Việt Nam và từ chối chuyển giao người tại Việt Nam cho nước ngoài.
Đáng lưu ý, về trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, Luật kế thừa một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Tuy nhiên, có sự tách biệt giữa trình tự, thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và từ Việt Nam cho nước ngoài, thay vì Hội đồng gồm 3 Thẩm phán xem xét, quyết định việc tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật quy định việc xem xét, quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do một Thẩm phán xem xét, quyết định chuyển đổi hình phạt tù trong quá trình xem xét tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam. Đồng thời, bổ sung trình tự phúc thẩm quyết định tiếp nhận chuyển giao, hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Luật quy định cụ thể về điều kiện, căn cứ, nguyên tắc chuyển đổi hình phạt tù khi tiếp nhận người từ nước ngoài về Việt Nam. Giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết.
Luật cũng quy định cụ thể các trường hợp hủy quyết định tiếp nhận, chuyển giao hoặc hủy quyết định thi hành các quyết định này. Quy định việc bảo lưu thẩm quyền xem xét lại bản án mà Tòa án Việt Nam đã tuyên đối với người được chuyển giao cho nước ngoài.
Như vậy, pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, hiện đại, nhân đạo, bảo đảm chặt chẽ, khả thi, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế; thúc đẩy hợp tác quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; bảo đảm quyền con người; tạo nền tảng cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, qua đó góp phần xây dựng, củng cố uy tín của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Anh Thảo