Sự cần thiết của việc trao quy chế tự chủ cho TP.HCM
Hội thảo nhằm tập trung tìm kiếm những giải pháp, tạo bước đệm pháp lý vững chắc cho sự phát triển của thành phố. Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, hội thảo diễn ra vào thời điểm rất đặc biệt là Bộ Chính trị đã có chủ trương đồng ý, tạo điều kiện cho TP.HCM tiến hành tổ chức tổng kết toàn diện Nghị quyết 31-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP.HCM đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và đồng ý để TP.HCM được tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 31-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố với yêu cầu trong kỷ nguyên mới. Dự thảo thay thế Nghị quyết 31-NQ/TW với mục tiêu không chỉ dừng lại ở tầm nhìn 2030 - 2045, mà còn hướng tới mốc lịch sử năm 2075 – kỷ niệm 100 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Để có được vốn đầu tư các tuyến đường sắt đô thị, chính quyền địa phương tự chủ có thể phát hành trái phiếu địa phương. Ảnh: JICA.
Tại hội thảo có rất nhiều ý kiến đóng góp cho Luật Đô thị đặc biệt (ĐTĐB), trong số này là tham luận của Viện sĩ – PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, nhấn mạnh sự cần thiết của việc trao quy chế tự chủ cho những đô thị có tiềm năng phát triển to lớn như TP.HCM.
Viện sĩ – PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện cho rằng, để thúc đẩy sự phát triển nhanh của các đô thị ấy và qua đó, thúc đẩy sự phát triển nhanh của cả nước, là điều không tranh cãi. Chính trên cơ sở nhận thức đó mà Quốc hội quyết định trao cơ chế tự chủ cho TP.HCM ở dạng thí điểm, bằng một nghị quyết. Đã hơn hai năm trôi qua kể từ lúc bắt đầu thực hiện Nghị quyết 98/2023/QH15 (viết tắt – Nghị quyết 98) về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM. Trong thời gian đó, thành phố đã có những bước phát triển đáng chú ý về kinh tế - xã hội: sản xuất – kinh doanh được phục hồi nhanh sau đại dịch; đa số doanh nghiệp có đơn hàng; người lao động có việc làm, có thu nhập; tiêu dùng được đẩy mạnh giúp dịch vụ phát triển; trong lĩnh vực đầu tư công các công trình hạ tầng trọng điểm được đây nhanh tiến độ thi công.
Tuy nhiên, dấu ấn của Nghị quyết 98 trong những thành quả nêu trên không rõ lắm. Lúc mới bắt đầu được triển khai, nghị quyết được kỳ vọng đặt cơ sở cho một thành phố năng động với quyền tự chủ rộng rãi, có điều kiện phát huy tối đa năng lực sáng tạo của từng cán bộ, công chức, viên chức trong quản lý, cung ứng dịch vụ công, từ đó đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đưa thành phố đi lên ngang tầm với các đô thị lớn trong khu vực và trên thế giới.
Quá trình thực hiện Nghị quyết 98, cho thấy có quá nhiều vướng mắc khiến cho việc triển khai nghị quyết không được suôn sẻ. Vướng mắc lớn nhất liên quan đến việc giải quyết xung đột giữa trao quyền quyết định cho chính quyền thành phố đối với những vấn đề thuộc phạm vi quản trị địa phương và bảo đảm sự thống nhất trong quản trị quốc gia của chính quyền trung ương.
Cần luật để tháo gỡ vướng mắc cho việc triển khai cơ chế tự chủ
Cũng theo Viện sĩ – PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, để tháo gỡ vướng mắc cho việc triển khai cơ chế tự chủ của thành phố, cần sự can thiệp theo chiều sâu từ thiết chế lập pháp nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng, đó là cần một luật chứ không chỉ một nghị quyết, luật này cần quy định rõ về quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương tự chủ.
Và, Luật ĐTĐB được kỳ vọng tạo điều kiện để thực hiện mục tiêu này. Về nội dung, trước hết luật phải nhìn nhận đô thị đặc biệt mà TP.HCM là ví dụ. Với tư cách chủ thể, chính quyền thành phố giao tiếp với chính quyền trung ương trên cơ sở các quy định của luật về ĐTĐB, các luật tổ chức và luật liên quan. Quan hệ cấp trên - cấp dưới giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, bao gồm quan hệ phân quyền, được luật chi phối và các bên liên quan dựa theo luật để ứng xử, chứ không theo cơ chế mệnh lệnh – phục tùng. Để cơ chế tự chủ có tính thiết thực, cần phải loại bỏ quan niệm việc phân quyền từ chính quyền trung ương xuống chính quyền địa phương, từ chính quyền địa phương cấp cao đến chính quyền địa phương cấp thấp hơn.
Trong khuôn khổ thực hiện phận sự, chính quyền thành phố tự chủ đích thực sử dụng các quyền được luật trao cho và chịu trách nhiệm về hệ quả của việc thực hiện các quyền đó. Luật phải ghi nhận một cách cụ thể thẩm quyền quyết định của chính quyền thành phố trong mọi lĩnh vực quản lý thuộc chức năng của chính quyền địa phương. Trong giới hạn thẩm quyền được ghi nhận, chính quyền thành phố tự ra quyết định mà không cần xin phép, xin ý kiến của chính quyền trung ương.
“Ai cũng hiểu có thực mới vực được đạo, TP.HCM không thể tự chủ thật sự khi chưa được thừa nhận có quyền sở hữu đối các tài sản cần thiết cho việc thực hiện các chức năng của chính quyền địa phương được gọi là tự chủ. Ở các nước, chính quyền địa phương tự quản là chủ sở hữu của các tài sản đa dạng: đất, công trình xây dựng, tiền, tài sản trí tuệ… Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, chính quyền địa phương sử dụng, khai thác, thậm chí định đoạt các tài sản của mình trong khuôn khổ triển khai các kế hoạch hoạt động phù hợp với chức năng luật định”, tham luận của Viện sĩ – PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện nêu.
Cần được trao quyền sử dụng nguồn thu để kiến tạo phúc lợi công cộng
Chính quyền có thể dùng các tài sản có trong tay để thành lập các doanh nghiệp hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp trên cơ sở hợp tác với các chủ thể khác. Chính quyền thành phố cũng có thể gián tiếp tham gia vào hoạt động kinh tế bằng cách trao vốn của mình cho các tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư thông qua các hợp đồng cho vay”.
Và, để có được vốn đầu tư, chính quyền địa phương tự chủ có thể không chỉ huy động các tài sản của mình, mà còn có thể vay vốn của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt dưới hình thức phát hành trái phiếu địa phương. Kinh nghiệm của các nước cho thấy địa phương tự chủ muốn phát triển bền vững thì phải là một địa phương được tổ chức tốt về phương diện phúc lợi xã hội. Tư tưởng chủ đạo là của cải vật chất do địa phương tạo ra phải được ưu tiên sử dụng để phục vụ cho cuộc sống của người dân địa phương. Việc cải thiện hệ thống phúc lợi giúp người dân địa phương nhận thấy hiệu quả làm ăn của mình tạo ra lợi ích cho chính mình, từ đó càng có động lực để tiếp tục làm ăn.
Do đó, chính quyền thành phố phải được trao quyền và có trách nhiệm đầu tư một cách thỏa đáng vào hệ thống phúc lợi công cộng (PLCC), gồm: mạng lưới cung ứng dịch vụ điện, nước, xử lý chất thải, giao thông, chăm sóc sức khỏe, nhà trẻ mẫu giáo và trường tiểu học, trung học. Chính quyền địa phương cũng phải quản lý các công trình phúc lợi này thông qua các doanh nghiệp (trust) công ích.
“Để có điều kiện đầu tư cho các công trình PLCC của địa phương, chính quyền thành phố phải được trao quyền sử dụng các nguồn thu của địa phương. Trong quan hệ với chính quyền trung ương liên quan đến việc sử dụng các nguồn thu, địa phương được coi như một doanh nghiệp: sau khi làm xong nghĩa vụ thuế với trung ương, thành phố được giữ lại các nguồn thu của mình và được quyền quyết định sử dụng các nguồn thu đó dưới hình thức nghị quyết của HĐND thành phố", Viện sĩ – PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện góp ý.
Tân Tiến - Nguyễn Quang