Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn. Ảnh: Quang Khánh
Hoàn thiện hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn
Luật gồm 37 khoản, trong đó có 35 khoản sửa đổi, bổ sung; 1 khoản thay thế cụm từ, 1 khoản về bãi bỏ các điểm, khoản, điều của Luật số 47/2024/QH15.
Luật cơ bản kế thừa, phát triển các quy định đã được áp dụng ổn định, có hiệu quả, thực tiễn không có vướng mắc; đồng thời, luật hóa quy định về phân định trách nhiệm, thẩm quyền phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và tiếp tục phân quyền, phân cấp, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung quy định nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ hệ thống pháp luật; tiếp tục rà soát bảo đảm phù hợp tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp cũng như tiếp tục xử lý, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là sửa đổi, bổ sung Điều 4 về phân loại đô thị và hệ thống đô thị của Luật số 47/2024/QH15. Theo đó, đô thị được phân loại theo vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; mức độ đô thị hóa; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan và các yếu tố đặc trưng.
Phân loại đô thị là cơ sở tổ chức, sắp xếp hệ thống đô thị theo các tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại đô thị, là cơ sở định hướng phát triển hệ thống đô thị, từng đô thị. Luật quy định, căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phân loại đô thị bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, xanh, thông minh, hiện đại và bền vững.
Hệ thống đô thị được định hướng tại quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch chung thành phố, bao gồm đô thị và đô thị mới.
Luật sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với pháp luật liên quan và quy định rõ hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn.
Cụ thể, sửa đổi, bổ sung Điều 3 về Hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn để làm rõ mối quan hệ với hệ thống quy hoạch quốc gia bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các pháp luật như dự án Luật Quy hoạch sửa đổi 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Đất đai sửa đổi năm 2025… Đồng thời, quy định về hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Theo đó, quy hoạch đô thị và nông thôn là quy hoạch không gian, lãnh thổ gồm các loại quy hoạch sau: Quy hoạch đô thị đối với thành phố, đô thị thuộc tỉnh, đô thị thuộc thành phố, đặc khu là đô thị, đô thị mới; quy hoạch nông thôn đối với xã, đặc khu không phải là đô thị; quy hoạch khu chức năng đối với khu chức năng; quy hoạch không gian ngầm đối với thành phố; quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đối với thành phố.
Quy hoạch chung được lập cho thành phố, đô thị thuộc tỉnh, đô thị mới dự kiến thành lập thành phố, đô thị mới thuộc tỉnh, xã, khu kinh tế, khu du lịch quốc gia, đặc khu. Đối với đô thị thuộc thành phố, đô thị mới thuộc thành phố, việc lập quy hoạch chung trong trường hợp cần thiết theo quy định của Chính phủ.
Quy hoạch phân khu được lập cho: khu vực thuộc quy hoạch chung đô thị hoặc quy hoạch chung khu kinh tế hoặc quy hoạch chung khu du lịch quốc gia đã được phê duyệt, có quy mô diện tích, yêu cầu quản lý, phát triển theo quy định của Chính phủ; khu chức năng không phải là khu kinh tế, khu du lịch quốc gia không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều này, có quy mô diện tích, yêu cầu quản lý, phát triển theo quy định của Chính phủ; đặc khu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Khu vực cần phải lập quy hoạch phân khu để đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Luật cũng quy định, quy hoạch thành phố được lập 3 cấp độ (chung - phân khu - chi tiết), đối với các đô thị thuộc tỉnh và các khu chức năng là khu kinh tế, khu du lịch quốc gia lập 2 cấp độ (chung - chi tiết), đối với các khu vực còn lại, trên cơ sở quy hoạch tỉnh thì lập 2 cấp độ (phân khu - chi tiết) hoặc 1 cấp độ là quy hoạch chi tiết.
Luật cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 15 để quy định rõ căn cứ lập các cấp độ quy hoạch đô thị và nông thôn.
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn. Ảnh: Phạm Thắng
Phân định trách nhiệm, thẩm quyền
Về tổ chức lập quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật mới quy định, trách nhiệm của Bộ Xây dựng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn về tổ chức lập quy hoạch đô thị, quy hoạch khu chức năng do Thủ tướng Chính phủ giao được phân quyền, phân cấp cho UBND cấp tỉnh thực hiện.
Đồng thời, bãi bỏ điểm a khoản 1 Điều 17 về việc Bộ Xây dựng tổ chức lập quy hoạch chung đô thị mới có phạm vi quy hoạch liên quan đến địa giới đơn vị hành chính của từ 2 tỉnh trở lên.
Như vậy, nhiệm vụ tổ chức lập quy hoạch của Bộ Xây dựng đã được phân quyền, phân cấp hoặc bãi bỏ, Bộ Xây dựng không thực hiện tổ chức lập quy hoạch đô thị và nông thôn.
Về tổ chức thẩm định quy hoạch đô thị và nông thôn, theo quy định mới của Luật, trách nhiệm của Bộ Xây dựng quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn về thẩm định quy hoạch chung khu du lịch quốc gia được phân quyền, phân cấp cho cơ quan chuyên môn về quy hoạch đô thị và nông thôn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện.
Trách nhiệm của Bộ Xây dựng quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn về thẩm định quy hoạch chi tiết của dự án quốc phòng, an ninh cần bảo đảm bí mật nhà nước được phân quyền, phân cấp cho cơ quan chuyên môn có chức năng quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện.
Về phê duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật mới quy định, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền phê duyệt: nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch chung thành phố và quy hoạch chung đô thị mới dự kiến thành lập thành phố; quy hoạch chung đô thị thuộc tỉnh có khu kinh tế thuộc hoàn toàn trong phạm vi quy hoạch; quy hoạch chung khu kinh tế.
UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt: quy hoạch chung đô thị thuộc tỉnh, quy hoạch chung đô thị mới thuộc thành phố, quy hoạch chung xã, quy hoạch chung đặc khu, quy hoạch chung khu du lịch quốc gia.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định và thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch chi tiết của dự án quốc phòng, an ninh cần bảo đảm bí mật nhà nước...
Luật còn bổ sung quy định rõ một số nội dung về phân quyền, phân cấp, như: Bổ sung quy định rõ tại Điều 17 việc cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập được giao quản lý khu chức năng và không trực thuộc UBND cấp tỉnh tổ chức lập nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch khu chức năng đó; đối với các khu vực trong khu chức năng, UBND cấp tỉnh phân công trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch giữa cơ quan, tổ chức được giao quản lý khu chức năng và UBND cấp xã.
Bổ sung quy định rõ tại Điều 17 về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, Điều 38 về trách nhiệm thẩm định và Điều 41 về thẩm quyền phê duyệt. Cụ thể, trường hợp các quy hoạch liên quan đến phạm vi từ 2 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc trách nhiệm lập, phê duyệt của UBND cấp tỉnh; các quy hoạch trong phạm vi địa giới hành chính của xã thì thuộc trách nhiệm lập, phê duyệt của UBND cấp xã.
Luật đã cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính chủ động của UBND cấp tỉnh trong việc phân công trách nhiệm giữa cơ quan quản lý khu chức năng và UBND cấp xã (khoản 2 và khoản 3a Điều 17, khoản 4 Điều 41).
Đối với thành phố sau khi quy hoạch chung được phê duyệt, thì thực hiện lập các quy hoạch phân khu đối với khu vực phát triển đô thị (việc lập quy hoạch chung các đô thị thuộc thành phố trong trường hợp cần thiết theo quy định của Chính phủ); quy định về đối tượng lập quy hoạch tại Điều 3 và Điều 5 để giảm số lượng quy hoạch cần phải lập.
Nhật An