- Mùa thu ở bản Kéo Coong sương mù dày như khói bếp, len vào từng kẽ tay, thấm cả vào gối chiếu. Cái lạnh mùa này khiến tiếng gà gáy cũng lạc mất giọng, lẩn vào núi đá âm u. Trên sườn đồi thấp, bên gốc trám già, có một mái nhà sàn nhỏ, khói bếp phả ra mỗi sáng như lời chào của đất cũ với trời sớm. Đó là nơi ở của ông Hoàng Văn Xíu.
Ông đã ngoài sáu mươi lăm, dáng gầy, da sạm như vỏ cây rừng. Ông Xíu sống một mình không vợ con, chỉ có ảnh Bác Hồ treo trang trọng ngay gian giữa ngôi nhà và chiếc bàn nhỏ ghi chi chít những dòng chữ bằng bút mực xanh đã nhòe: “Giúp bà Mẩy viết đơn”, “Nhắc chú Tòng lên xã nộp giấy khai sinh cho cháu”. Bếp nhà ông, cũng như mọi nhà trong bản, không bao giờ tắt. Củi chất gọn ở góc nhà, tro rải đều quanh kiềng bếp như dấu tích của ngày tháng. Không có điện. Không có tivi. Chỉ có tiếng lửa nổ tí tách, tiếng bút cào vào giấy và tiếng ông khẽ đọc lại từng lời dạy của Bác, việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.
Ngôi nhà của ông Xíu không tiện nghi nhưng lại là nơi nhiều đứa trẻ bản tìm đến học chữ, nhiều người già tìm đến xin nhờ viết giúp một dòng đơn và cũng là nơi cán bộ xã mỗi lần lên đều ghé qua, không vì nhiệm vụ mà vì kính trọng. Những ngày không mưa, khi mặt trời vừa khuất bóng sau lưng núi là lúc đám trẻ con bản Kéo Coong í ới gọi nhau chạy về ngôi nhà sàn của ông Xíu. Đứa lớn đứa bé, đứa đi chân trần, đứa còn khoác áo cũ, tay cầm cuốn vở mỏng đã sờn mép. Ngôi nhà bỗng rộn lên tiếng chân chạy trên sàn, tiếng cười xen lẫn tiếng ho khẽ vì gió lạnh. Ông Xíu không bao giờ quát mắng. Ông chỉ nhẹ nhàng dọn chỗ bên bếp, kê vài tấm ván cũ thành bàn, đặt chiếc đèn dầu vào giữa, và giọng ấm khàn vang lên:
- Hôm nay, ai đọc được chữ ‘Độc lập – Tự do – Hạnh phúc’ thì được ăn bánh rán nhé!
Cả lũ cười phá lên rồi cắm cúi đánh vần, tay bẩn lem mực nhưng ánh mắt sáng rực. Trong lúc bếp củi nổ lách tách, ông Xíu vừa chỉnh nét bút cho bé Pham, vừa nhắc bé Tý ngồi thẳng lưng. Có đứa mệt quá ngủ gục bên chân ông. Có đứa trốn học buổi sáng, nhưng vẫn chạy đến học buổi tối vì thích nghe ông kể chuyện về Bác Hồ.
Hà, cháu ông Xíu về Kéo Coong vào một ngày đầu thu. Xe khách dừng lại đầu con dốc đất đá nham nhở, nơi chỉ có một quán tạp hóa nhỏ bán mì tôm và kẹo lạc, không sóng điện thoại, không bảng hiệu. Cô sinh viên năm cuối ngành xã hội học về thực tập tại ủy ban xã theo phân công. Tóc nhuộm nâu nhạt, balô xịn, điện thoại cảm ứng cầm trên tay, Hà mang theo trong đầu mình một thành kiến ngấm ngầm: Về bản chỉ là hình thức, lấy số liệu cho đủ mà thôi.
Ngôi nhà sàn của ông Xíu hiện ra giữa sương chiều như một chiếc tổ chim bám vào sườn đồi. Cô đã lâu không về. Lần cuối là năm lớp chín, sau một trận ốm dài, cha mẹ cô gửi lên ông một mùa hè cho đỡ ương bướng. Cô nhớ hình ảnh ông vác củi, nhớ tiếng ông chặt củi nhóm bếp, nhớ cả mùi gạo cũ nấu cơm khê. Nhưng giờ, khi đứng trước ông với đầy đủ học vấn và sự tự tin của một người trẻ thành thị, Hà ngỡ ông sẽ khen, sẽ tự hào. Nhưng ông Xíu chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ vai cô cháu gái:
- Về là tốt. Không phải ai có điều kiện cũng muốn về bản đâu.
Cô định khoe luận văn, thành tích học tập, nhưng ông không hỏi. Thay vào đó, ông lôi ra cuốn sổ tay bọc vải chàm, lật giở từng trang với nét chữ nắn nót:
- Cái này ông viết từ hồi nghỉ hưu. Việc cần làm cho bản. Việc của người chưa đọc được. Việc của cháu nào sắp bỏ học…
Hà nhìn vào, ban đầu chỉ thấy toàn ghi chép vụn vặt. Nhưng lật sâu, cô thấy có dòng: Hôm nay giúp Pham viết thư xin học lại lớp Một. Nó nghỉ hai năm vì mẹ mất. Gửi kèm thư cho nhà trường, trích lời Bác: Dù khó khăn đến đâu cũng phải học. Cô ngẩng lên, thấy ông đang cẩn thận hong khô tờ giấy bị mưa ướt. Chiếc điện thoại của cô cũng trở nên vô nghĩa khi ở bản không có sóng di động, chưa có điện.
Những ngày sau đó, Hà dần nhận ra lịch sinh hoạt của ông không giống ai: sáng dậy trước gà gáy, trưa lên rừng hoặc vào bản, tối đốt bếp dạy trẻ học chữ. Ông không nói về Bác Hồ như khẩu hiệu. Ông sống theo Bác bằng việc làm cụ thể, kiên trì, bền bỉ và lặng thầm. Nhiều lần đứng sau vách nhìn lũ trẻ ríu rít, trái tim cô bỗng mềm lại. Cô không hiểu sao giữa một nơi không điện, không ghế nhựa, không máy tính và máy chiếu lại có thể có lớp học ấm đến vậy. Trong khi cô mỏi mắt kiểm tra số liệu thực hiện chỉ tiêu học tập và làm theo Bác trên giấy tờ xã, ông Xíu đã làm điều đó bằng việc vác củi cho cụ Cháng, đốt lửa sưởi cho bọn trẻ học, nhắc từng hộ đi nộp thuế. Mỗi tối, bên ánh lửa hồng, Hà dần quen với việc không dùng điện thoại. Cô chống cằm nghe ông kể về thời kháng chiến, về những chuyến đi vác lương thực, những buổi học chính trị ban đêm dưới ánh đèn dầu.
Một chiều sương giăng mù kín lối núi, Hà dọn lại mấy quyển sách cũ trong chiếc hòm gỗ nơi góc nhà. Toàn sách Tiếng Việt lớp Một, vài cuốn truyện tranh đã nhàu và mấy tờ giấy kẻ ô ly cháy sém mép. Cô lặng lẽ lật từng trang, bất ngờ thấy nét chữ nắn nót của một đứa trẻ: Con học chữ để viết thư cho mẹ trên trời. Nước mắt Hà ứa ra không kịp ngăn. Giữa nhà, ông Xíu đang đốt bếp, nhẩn nha gọt vỏ sắn, chuẩn bị bữa ăn giữa giờ giải lao cho đám trẻ đến học. Hà bước ra, ngồi xuống bên cạnh, nhìn ánh lửa bén lên, rồi khẽ nói:
- Ông ơi, mai cho cháu dạy bọn trẻ con học với nhé!
Ông hơi khựng lại, ngẩng lên. Trong ánh lửa đỏ hồng hắt lên má ông, đôi mắt ấy không ngạc nhiên, không vội mừng, mà sâu như thể đã chờ câu đó từ lâu.
Từ hôm ấy, lớp học bên bếp lửa không chỉ có một người thầy già. Mỗi tối, tiếng Hà đánh vần vang theo nhịp cháy của củi. Cô dạy bọn nhỏ cách viết tên mình, viết tên mẹ, và cả cách viết “Tổ quốc” không sai chính tả. Có một chiều Chủ nhật khi Hà và đám trẻ ngồi ở sàn phơi nhà ông Xíu, một đứa bé hỏi:
- Cô Hà có ở lại bản luôn không?
Hà nhìn vào khung cửa, nơi nắng chiều chảy xuống vách nhà như dòng mật ong rừng. Cô khẽ vuốt tóc bé, cười:
- Khi nào các em biết đọc hết lời Bác trong cuốn sổ của ông thì cô mới đi.
Một buổi tối, khi Hà đang ngồi bên bếp nhà ông Xíu thì nghe tiếng xe máy rồ lên dưới sân. Một bóng người cao, áo bạc màu, đội mũ trùm kín bước lên cầu tháng, giọng trầm ấm:
- Cho tôi hỏi, đây có phải nhà ông Hoàng Văn Xíu?
Hà đứng dậy, tròn mắt:
- Minh?
Minh bỏ khẩu trang, mỉm cười, nụ cười vẫn hiền lành như ba năm trước:
- Anh theo đoàn khảo sát lắp điện mặt trời cho mấy bản vùng biên. Kéo dây xong bản trên, ghé qua đây, không ngờ lại gặp em.
Cô không nói gì. Chỉ đỡ lấy túi đồ nặng anh đang mang. Họ ngồi bên bếp. Minh vẫn là Minh, không bóng bẩy, chỉ mang theo vài thiết bị và mấy chiếc bóng đèn LED. Hà lặng nhìn anh thử dây điện, kiểm tra bình sạc, cặm cụi như thể ánh sáng bản này là công trình cả đời. Hà hỏi:
- Anh không trách em ngày ấy rời đi à?
Minh không ngẩng lên, vẫn bắt đầu nối dây:
- Không. Ai cũng cần thời gian để tìm ra lý do thật sự để ở lại.
Cô cắn môi. Bếp lửa nổ tí tách. Ngoài kia, sương vẫn lạnh nhưng cô thấy gò má mình ấm hơn bao giờ hết.
Minh không chỉ đến rồi đi. Anh ở lại dạy dân cách lắp điện mặt trời và sử dụng bóng đèn. Anh cùng Hà và các thanh niên bản Kéo Coong kéo dây, ổn định ánh sáng đầu tiên cho bản.
Ngày lắp đặt bắt đầu từ tinh mơ, khi sương còn bám trắng những tàu lá chuối và gà mới gáy râm ran ở triền dốc. Minh vác trên lưng cuộn dây điện to, theo sau là ông Xíu vác dây thừng và Hà, tay ôm chiếc bảng vẽ sơ đồ lắp hệ thống. Bản Kéo Coong chưa từng có điện. Đèn dầu, củi và bếp lửa là bạn của đêm. Trẻ con chưa biết tivi là gì.
Minh trèo lên mái nhà văn hóa, bắt vít bằng tay từng tấm pin năng lượng. Có lúc dây điện không đủ dài. Minh tháo bớt từ bình dự phòng mang theo, nối lại. Ông Xíu ngồi ở thềm, mỉm cười khi nhìn hai đứa trẻ loay hoay.
Tối hôm đó, lần đầu tiên trong lịch sử bản Kéo Coong, ánh sáng bật lên trong nhà văn hóa. Những đứa trẻ há hốc mồm nhìn bóng đèn nhỏ sáng trắng như sao. Có em reo lên:
- Trăng vào nhà rồi!
Ông Xíu bật cười, mắt lấp lánh trong ánh sáng. Ngoài sân, đám trẻ chạy vòng quanh bóng đèn, như ong vờn hoa.
Sáng hôm sau, Minh và Hà dậy sớm để kiểm tra pin mặt trời, thì nghe tiếng gọi thất thanh:
- Ông Xíu ngất ở chân đèo rồi! Mau đưa đi trạm y tế!
Khi chạy đến, Hà thấy ông nằm dưới đất, người ướt sũng, đôi bàn tay già nua vẫn còn nắm chặt đoạn dây thừng. Vết trầy ở trán ông đã se máu, nhưng môi ông tím tái, thở hổn hển. Minh vội cõng ông lên lưng, lội qua đoạn suối tràn, vừa đi vừa gọi:
- Ông ơi, cố gắng lên!
Ở trạm y tế xã, khi tỉnh lại, ông Xíu nói trong hơi thở đứt đoạn:
- Không phải… ông dọn đường cho mình đi… mà cho… đám trẻ tới lớp, cho cô giáo khỏi trượt ngã.
Hà nắm tay ông, lần đầu tiên thấy bàn tay gầy guộc ấy run như lá sắp rụng. Hóa ra, đêm hôm ấy mưa, nước từ đỉnh núi tràn xuống như dòng thác bạc, lôi theo đất đá, phủ kín một đoạn của con đường mòn duy nhất nối bản ra xã. Ông Xíu đã lặng lẽ xếp lại cuốn sổ tay, vác cuốc, khoác áo mưa, cột đèn pin cũ lên trán rồi bước ra ngoài.
Một tuần sau vụ sạt lở, bản Kéo Coong trở lại nhịp sống yên ắng thường ngày. Mưa ngừng, suối rút, đá được dọn, cây được chống lên. Đám trẻ lại í ới gọi nhau sau giờ cơm tối, nhưng lần này, chúng không đến ngôi nhà sàn của ông Xíu nữa. Chúng đến nhà văn hóa bản, nơi vừa được Minh lắp xong hệ thống đèn mặt trời, chiếc bảng mới do Hà viết dòng đầu tiên bằng phấn trắng: Năm điều Bác Hồ dạy. Ông Xíu vẫn còn băng ở trán. Mắt ông đã kém, nhưng khi ánh đèn bật sáng, ánh sáng đầu tiên không cần dầu, không cần đèn pin, ông nhoẻn cười như trẻ nhỏ. Hà ngồi trên bục gỗ, vở mở, trẻ con vây quanh. Minh đứng sau, lau chiếc quạt điện nhỏ mới lắp. Cô bé Pham thỏ thẻ đọc:
- Bác Hồ dạy, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Cả lớp vỗ tay. Còn ông Xíu lặng lẽ mỉm cười. Đêm ấy, sau khi lớp học đầu tiên kết thúc, lũ trẻ đã về hết. Ông Xíu ngồi trước hiên, tay vẫn cầm cuốn sổ cũ. Bên cạnh là Minh và Hà. Trên cao, trăng lên tròn vành vạnh, bầu trời không một gợn mây. Ánh trăng đổ xuống sàn phơi, phủ lên mái nhà sàn một màu bạc nhẹ như khói, làm cho cảnh vật quen thuộc bỗng trở nên lặng lẽ và huyền ảo đến lạ thường. Gió núi thổi nhẹ. Lá tre xào xạc như tiếng người xưa trò chuyện. Hà khẽ nắm tay ông, thì thầm:
- Ông ơi, bản mình có trăng từ xưa rồi, nhưng hôm nay mới thật sáng.
Minh đưa cho Hà cốc nước lá ổi, cô đặt vào tay ông Xíu rồi nói tiếp:
- Ông nghỉ ngơi, không phải dạy nữa, để chúng cháu tiếp tục công việc của ông nhé!
Phía xa, những đốm sáng nhỏ của bóng đèn mặt trời trong nhà dân bản lấp lánh như đàn đom đóm ngủ yên, nối nhau qua từng bậc ruộng, như thể bản đã mọc thêm một dải ngân hà dưới mặt đất.
Nguyễn Thị Quỳnh Nga