Trong thông báo mới đây, ông Nguyễn Hùng Cường, Chủ tịch HĐQT CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp) đã bị công ty chứng khoán bán giải chấp gần 7,9 triệu cổ phiếu DIG từ ngày 6/3 đến 11/3 theo phương thức khớp lệnh.
Trước giao dịch, ông Cường nắm giữ 53,8 triệu cổ phiếu, tương ứng 6,76% vốn điều lệ. Sau khi bị xử lý giải chấp, lượng sở hữu giảm xuống còn khoảng 45,9 triệu cổ phiếu, tương ứng 5,77%.
Tổng lượng cổ phiếu DIG bị bán giải chấp của gia đình Chủ tịch DIC Corp đã vượt 34 triệu đơn vị.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Phó Chủ tịch HĐQT DIC Corp và là em của ông Hùng cũng thông báo đã bị bán giải chấp hơn 2,2 triệu cổ phiếu DIG từ ngày 9/3 đến 11/3. Sau giao dịch, tỷ lệ sở hữu của bà Huyền giảm từ khoảng 13,7 triệu cổ phiếu (1,72% vốn) xuống còn 11,5 triệu cổ phiếu (1,44% vốn).
Cùng thời gian, bà Lê Thị Hà Thành, mẹ ông Nguyễn Hùng Cường cũng bị bán giải chấp khoảng 1,8 triệu cổ phiếu DIG. Sau giao dịch, lượng cổ phiếu bà Thành nắm giữ giảm từ khoảng 15,5 triệu cổ phiếu xuống còn khoảng 13,8 triệu cổ phiếu, tương ứng 1,73% vốn.
Như vậy, tổng cộng 11,9 triệu cổ phiếu DIG của các cá nhân liên quan đến Chủ tịch Nguyễn Hùng Cường đã bị công ty chứng khoán bán giải chấp trong khoảng thời gian từ 6/3-11/3. Tổng giá trị tính theo mệnh giá hơn 119 tỷ đồng.
Kể từ giữa tháng 12/2025 đến nay, nhóm cổ đông trong gia đình Chủ tịch HĐQT Nguyễn Hùng Cường đã nhiều lần bị công ty chứng khoán bán giải chấp cổ phiếu. Tổng lượng cổ phiếu DIG bị bán giải chấp đã vượt 34 triệu đơn vị, tương đương 4,3% vốn điều lệ của DIC Corp.
Làn sóng bán giải chấp này do hiện tượng "call margin", khi thị giá cổ phiếu DIG sụt giảm mạnh, mất khoảng 45% giá trị từ mức đỉnh 24.600 đồng/cp (thiết lập tháng 10/2025) xuống còn khoảng 13.550 đồng/cp vào đầu tháng 3/2026 – tương đương vùng đáy thuế quan khoảng 1 năm trước.
Với một doanh nghiệp bất động sản như DIC Corp, việc lãnh đạo bị bán giải chấp lượng lớn cổ phiếu (4,3% vốn) thường gây ra các tác động tiêu cực dây chuyền.
Trước hết, áp lực đè nặng lên giá cổ phiếu. Một lượng cung lớn đột ngột đổ ra thị trường khiến giá cổ phiếu khó phục hồi, thậm chí giảm sâu hơn. Điều này làm xói mòn tài sản của các cổ đông nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó là rủi ro về cấu trúc quản trị. Việc gia đình Chủ tịch bị giảm tỷ lệ sở hữu có thể làm yếu đi quyền kiểm soát tại doanh nghiệp, tạo kẽ hở cho các hoạt động thâu tóm từ bên ngoài nếu tỷ lệ này rơi xuống mức thấp hơn ngưỡng an toàn.
Cùng với đó ảnh hưởng đến uy tín và khả năng huy động vốn. Việc bị "call margin" thường là tín hiệu cho thấy đòn bẩy tài chính cá nhân của lãnh đạo đang gặp vấn đề. Điều này khiến các ngân hàng hoặc nhà đầu tư thận trọng hơn khi xem xét các khoản vay hoặc các đợt phát hành trái phiếu/cổ phiếu tăng vốn của doanh nghiệp trong tương lai; đồng thời gây tâm lý hoang mang cho cổ đông. Nhà đầu tư thường nhìn vào hành động của lãnh đạo để đặt niềm tin. Việc cổ phiếu của người nội bộ bị bán cưỡng bức dễ tạo ra tâm lý lo ngại về sức khỏe tài chính thực sự của cả cá nhân lãnh đạo lẫn dự án của công ty.
Ngoài ra, phản ứng "phòng thủ" tốn kém. Để “cứu giá”, HĐQT DIC Corp đã thông qua chủ trương mua lại tối đa 5% tổng số cổ phiếu đang lưu hành (tương đương khoảng 39,8 triệu đơn vị) làm cổ phiếu quỹ để giảm vốn điều lệ. Tuy nhiên, việc này có thể làm giảm nguồn tiền mặt sẵn có để đầu tư vào các dự án trọng điểm đang triển khai.
Châu Anh