Đóng góp ý kiến đến Báo Người Lao Động về 2 phương án tăng lương hưu do Bộ Nội vụ đề xuất, nhiều bạn đọc cho rằng những con số trong bài toán điều chỉnh lương hưu không chỉ là phép cộng trừ ngân sách, mà là thước đo chất lượng sống của hàng triệu người sau một đời lao động.
Xoay xở chật vật
Thực tế cho thấy, với mức lương hưu phổ biến chỉ khoảng 2,5 – 4 triệu đồng/tháng, không ít người già đang phải chắt chiu từng khoản chi, cân đo giữa bữa ăn và viên thuốc. Khi giá cả sinh hoạt, chi phí y tế ngày một tăng, "an nhàn tuổi già" trở thành một khái niệm xa xỉ với nhiều người về hưu.
Câu chuyện khó khăn của người hưu trí không phải là cá biệt. Đó là hệ quả tích tụ của nhiều yếu tố: mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) thấp trong quá khứ, thời gian tham gia chưa dài, cùng với cơ chế điều chỉnh lương hưu chưa theo kịp tốc độ tăng chi phí sống. Hệ quả là một bộ phận không nhỏ người nghỉ hưu rơi vào tình trạng "đủ sống tối thiểu", thậm chí phải phụ thuộc con cháu hoặc tiếp tục lao động khi sức khỏe đã suy giảm.
"Những người không may mắn bị nhiều bệnh nền nên bị suy giảm sức khỏe 61%- 81% phải nghỉ hưu sớm 5-10 năm và sẽ bị trừ tỷ lệ hưởng 10%_20% là nhóm yếu thế nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Vì họ vừa có lương hưu thấp lại vừa bị nhiều bệnh nền phải lo chi phí thuốc chữa bệnh, chúng ta cần có giải pháp căn bản để nâng lương hưu cho nhóm đối tượng này" – một bạn đọc góp ý.
Trong bối cảnh đó, đề xuất điều chỉnh lương hưu với hai phương án – tăng 8% đồng loạt hoặc tăng "lai" (4,5% kèm thêm 200.000 đồng/tháng) – đã đặt ra một lựa chọn không đơn giản. Nếu nhìn từ nguyên tắc đóng – hưởng, phương án tăng theo tỉ lệ phần trăm có vẻ hợp lý. Người đóng nhiều, hưởng nhiều; mức tăng tương ứng với mức lương hiện tại, đảm bảo tính công bằng theo đóng góp. Tuy nhiên, chính cách tăng này lại vô tình khoét sâu khoảng cách giữa các nhóm người hưu trí. Người có lương thấp chỉ được tăng vài trăm nghìn đồng, trong khi người có lương cao được tăng nhiều hơn đáng kể. Khoảng cách thu nhập vì thế không thu hẹp mà còn giãn rộng thêm.
Ngược lại, phương án tăng "lai" – vừa tăng theo tỉ lệ, vừa cộng thêm khoản cố định – lại hướng đến yếu tố chia sẻ nhiều hơn. Khoản cộng thêm tuy không lớn, nhưng có ý nghĩa thiết thực với những người đang sống ở đáy thang thu nhập. Với họ, thêm 200.000 đồng có thể là tiền điện, tiền thuốc trong vài ngày, thậm chí là một phần chi phí sinh hoạt thiết yếu. Tuy nhiên, phương án này cũng đặt ra băn khoăn về tính công bằng đối với những người đã đóng góp nhiều hơn vào quỹ BHXH.
Dung hòa cách nào?
Rõ ràng, vấn đề nằm ở chỗ: nếu chỉ chọn một trong hai cách tiếp cận – hoặc tuyệt đối hóa nguyên tắc đóng – hưởng, hoặc nghiêng hẳn về chia sẻ – thì đều khó đạt được sự cân bằng. Lương hưu, về bản chất, không chỉ là khoản "hoàn trả" từ quá trình đóng góp, mà còn là công cụ bảo đảm an sinh xã hội. Vì vậy, một chính sách hợp lý phải dung hòa được cả hai yếu tố: công bằng và nhân văn.
Trong bối cảnh hiện nay, phương án tăng "lai" là lựa chọn khả dĩ hơn, nhưng cần được thiết kế linh hoạt hơn thay vì áp dụng một mức cộng cứng. Có thể chia theo nhóm lương hưu: nhóm dưới 4 triệu đồng được cộng cao hơn (300.000 – 400.000 đồng), nhóm trung bình cộng ở mức vừa phải, còn nhóm cao chỉ tăng theo tỉ lệ. Cách làm này vừa giữ được nguyên tắc đóng – hưởng ở mức tương đối, vừa thực hiện chức năng điều tiết, hỗ trợ những người yếu thế.
"Một thời chúng ta đã tạo ra sự trốn tránh mức đóng bảo hiểm xã hội. Lương cao, thu nhập cao nhưng đóng BHXH thấp, vì người lao động và cả tổ chức đóng đều có lợi. Có doanh nghiệp nhà nước, một thời ai cũng ước mơ hoặc chạy để được vào biên chế, vì thu nhập cao, lĩnh thưởng không tưởng. Nhưng giờ về hưu lại lĩnh thấp hơn các ngành khác. Tại sao, chắc ai cũng biết. Bởi vậy, phải công bằng khi tăng lương hưu, đóng nhiều phải được hưởng cao" – bạn đọc tên Long, bày tỏ.
Tuy nhiên, điều chỉnh lương hưu chỉ là giải pháp tình thế. Về lâu dài, cần một cách tiếp cận căn cơ hơn để người lao động có thể "sống được" bằng lương hưu. Trước hết, cần xác lập một mức sàn lương hưu gắn với mức sống tối thiểu, thay vì chỉ điều chỉnh theo tỉ lệ tăng chung. Khi đã có "đáy an sinh", mọi chính sách điều chỉnh phía trên mới thực sự có ý nghĩa.
Bên cạnh đó, không thể tách lương hưu khỏi các chính sách hỗ trợ đi kèm. Người cao tuổi là nhóm có nhu cầu y tế lớn, vì vậy giảm chi phí khám chữa bệnh, mở rộng bảo hiểm y tế, hỗ trợ tiền điện, nước hay nhà ở xã hội… sẽ giúp giảm áp lực trực tiếp lên lương hưu. Nói cách khác, nâng chất lượng sống không chỉ bằng tăng thu nhập, mà còn bằng giảm chi phí thiết yếu.
Một yếu tố quan trọng khác là củng cố niềm tin vào hệ thống BHXH. Nếu người lao động cảm thấy đóng nhiều nhưng về già vẫn không đủ sống, họ sẽ e ngại tham gia, thậm chí rút BHXH một lần. Điều này làm suy yếu chính nền tảng của hệ thống an sinh. Vì vậy, mọi điều chỉnh cần hướng tới mục tiêu dài hạn: đảm bảo người tham gia thấy rõ giá trị của việc đóng góp, đồng thời cảm nhận được sự chia sẻ khi gặp khó khăn.
Cuối cùng, câu hỏi "tăng bao nhiêu" không quan trọng bằng "tăng để làm gì". Nếu mục tiêu là để những con số đẹp hơn trên giấy, bất kỳ phương án nào cũng có thể biện minh. Nhưng nếu mục tiêu là để người già không phải "co kéo" từng ngày, không phải cân nhắc giữa bữa ăn và viên thuốc, thì chính sách phải đi xa hơn những phép tính cơ học.
Lương hưu, suy cho cùng, là lời cam kết của xã hội với những người đã cống hiến cả đời. Một chính sách đúng không chỉ bảo đảm sự công bằng trong quá khứ, mà còn phải mang lại sự an tâm cho hiện tại và niềm tin cho tương lai.
"Nhà nước nên thanh toán một phần tiền bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ đã đóng khi họ đủ tuổi về hưu và hưởng lương hưu, thế thì mới hợp lý và công bằng' – một bạn đọc góp ý,
VĨNH TÙNG