Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng và phúc lợi sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực quản trị quốc gia trong một trật tự kinh tế toàn cầu mới, vào cách ứng phó với các thách thức tài chính như thuế quan, chính sách tiền tệ, tiền mã số và đặc biệt là sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh chuyển đổi sâu rộng và mức độ phức tạp ngày càng gia tăng.
Việt Nam bước vào mùa xuân năm Bính Ngọ 2026 với hành trang khá tích cực. Quy mô GDP và kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng tăng, xuất nhập khẩu thuộc nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và duy trì thặng dư thương mại ở mức cao. Cùng với đó, Đại hội XIV của Đảng xác định phương châm “Phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, với đặc thù của một quốc gia đang phát triển, đất chật, người đông và có vị trí địa chiến lược ven Biển Đông, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 3 lĩnh vực then chốt để thúc đẩy tiến trình đổi mới trong giai đoạn tới.
Thứ nhất, quy hoạch và định hướng tầm nhìn gắn với phân bổ nguồn lực. Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường cần đóng vai trò nền tảng, liên kết và huy động hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm công bằng, minh bạch, nhất là trong bối cảnh tinh gọn địa giới hành chính và phân cấp quản lý. Các chỉ tiêu vĩ mô và mục tiêu tăng trưởng chủ yếu phải trở thành kim chỉ nam cho hành động, tạo đột phá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia. Trên cơ sở đó, quy hoạch quốc gia cần dựa trên mô hình quản trị cân bằng năm nguồn lực cơ bản: Tự nhiên, tài chính, con người, xã hội và sản phẩm, nhằm hướng tới thịnh vượng lâu dài.
Thứ hai, quản trị bền vững các nguồn lực. Quản trị hiệu quả là điều kiện để bảo đảm tiếp cận công bằng, quản lý có trách nhiệm và hướng tới lợi ích lâu dài, cho phép tất cả các nguồn vốn phát triển mạnh mẽ để tạo ra sự giàu có lâu dài, chứ không chỉ lợi ích ngắn hạn. Các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng cũng như kế hoạch và chiến lược trong quy hoạch phát triển cần phải được tích hợp với nền tảng quản trị bền vững, nhằm phát huy đồng bộ 5 nguồn lực quốc gia.
Trước tiên là nguồn lực tài chính. Về bản chất, quản trị vốn tài chính về cơ bản là xác định giá trị (giá cả) của các nguồn lực để phân tích nguồn lực thực tế quốc gia nhằm tạo ra dòng tiền, nguồn vốn có sức thanh khoản cao và phân bổ giải ngân công khai, minh bạch và toàn diện để thúc đẩy hoạt động và tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước cần có chính sách lãi suất tốt, cũng như doanh nghiệp nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt kinh tế - xã hội, cần tiên phong hơn nữa trong việc hỗ trợ cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp tư nhân để giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng và hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, do đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên cần có phương pháp định giá thực tế và chính sách thuế phù hợp để người dân có thể tiếp cận nguồn lực này một cách bình đẳng và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo...
Tiếp theo là nguồn lực tài nguyên. Tài nguyên cơ bản như đất, khoáng sản, cây xanh, rừng, sông hồ, biển, không gian (bao gồm cả không gian ngầm) cần phải được xác định và đánh giá một cách công khai minh bạch thường xuyên nhằm đảm bảo chúng vẫn được khai thác, sử dụng công bằng, hợp lý, được tích lũy và không bị cạn kiệt theo mô hình nền kinh tế tuần hoàn.
Việt Nam với lợi thế có 21/34 tỉnh, thành giáp với biển, cần phát triển mạnh mẽ chiến lược hướng ra Biển Đông nhằm phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, thiên tai ở nước ta cùng với biến đổi khí hậu ven biển phức tạp đang xảy ra hàng năm ảnh hưởng đến nguồn lực tài nguyên rất nghiêm trọng. Chính vì vậy, bên cạnh các sản phẩm “cứng” (vật lý), cần chú trọng triển khai các sản phẩm "mềm" quản lý rủi ro bằng cách kiểm soát cách con người và tài sản tương tác với các khu vực dễ bị thiên tai...
Nguồn lực thứ ba là nguồn lực con người. Việt Nam là quốc gia đông dân đang phát triển nên tập trung mục tiêu kép tăng trưởng GDP và việc làm. Tập trung vào tăng trưởng tạo nhiều việc làm và đảm bảo tốt điều kiện lao động (lương, môi trường, nơi ở, đi lại, chữa bệnh, bảo hiểm XH...) và các chính sách toàn diện sẽ mang lại lợi ích cho lực lượng lao động đông đảo, bình đẳng giới, thúc đẩy ổn định xã hội, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững, tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực của năng suất và hạnh phúc. Ngoài ra, trong thời đại công nghệ số, chúng ta cũng đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy cần có những chính sách chủ động đào tạo và phát triển nhân lực trong các lĩnh vực kiến thức kỹ thuật số và kỹ năng công nghệ...
Một nguồn lực nữa là nguồn lực xã hội. Các cơ quan lập pháp cần chủ động dẫn đầu bằng cách cải cách luật pháp và chính sách tập hợp các lực lượng xã hội dân sự để thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển quốc gia, thay vì chỉ phản ứng bị động đối với thực tế xã hội. Điều này bao gồm việc không chỉ thúc đẩy xây dựng một nhà nước pháp quyền với chính quyền địa phương hai cấp mà còn tạo ra khuôn khổ cho các lĩnh vực mới như chính phủ điện tử, công nghệ số và năng lượng xanh..., loại bỏ các trở ngại, lợi ích nhóm và đảm bảo luật pháp có tầm nhìn xa, minh bạch và công bằng đối với người dân và nền kinh tế, biến sức mạnh thể chế trở thành động lực cốt lõi và đột phá cho tăng trưởng.
Cuối cùng là nguồn lực sản phẩm. Ở cấp độ quốc gia nên tập trung ưu tiên ngành nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực trong việc phát triển hạ tầng công nghệ vào nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh, bền vững và chuyển đổi số. Hơn nữa, bên cạnh năng lượng truyền thống, cần thúc đẩy ngành năng lượng chuyển đổi xanh, giảm phát thải (năng lượng tái tạo, hạt nhân). Ngoài ra, cần chú trọng phát triển hệ thống giao thông và logistics đường sắt, đường bộ cao tốc, đường thủy, đường hàng không kết nối giao thông các địa phương và quốc tế.
Các đô thị đầu tàu kinh tế như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông công cộng, hệ thống cấp thoát nước và xử lý môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống đô thị. Đồng thời, cần hiện đại hóa các ngành công nghiệp trọng điểm, đầu tư hạ tầng cho công nghiệp số như internet tốc độ cao, IoT, nền tảng dữ liệu - đám mây, AI và an ninh mạng... Quá trình này phải gắn với chiến lược phát triển công nghiệp lưỡng dụng, bảo đảm yêu cầu an ninh, quốc phòng.
Thứ ba, trong bối cảnh nền kinh tế mở và hội nhập sâu rộng, phẩm chất lãnh đạo gắn với ngoại giao và quan hệ quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Các nhà lãnh đạo cần triển khai ngoại giao hiệu quả, biết tận dụng cả đối tác và đối thủ cạnh tranh: Đối thủ tạo áp lực thúc đẩy đổi mới, nâng cao hiệu quả; đối tác mang lại nguồn lực, thị trường, công nghệ và sức mạnh hợp tác chuỗi cung ứng để mở rộng cơ hội tăng trưởng. Trên cơ sở đó, cần xây dựng quan hệ bền chặt với các quốc gia, nhất là ASEAN, Đông Bắc Á và các đối tác chiến lược toàn diện, đồng thời tham gia tích cực các tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế, an ninh quốc gia, thu hút đầu tư, tiếp cận công nghệ và thúc đẩy thương mại bền vững. Song song, việc nâng cao năng lực đàm phán quốc tế là yêu cầu cấp thiết trước những biến động của chính sách thuế quan và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả ba lĩnh vực then chốt trên ngay từ năm mới Bính Ngọ - biểu tượng của sự nhanh nhẹn và tràn đầy năng lượng, sẽ là chỉ dấu cho một năm “mã đáo thành công”, mở ra kỷ nguyên mới với nguồn mã lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2026 - 2030 nhằm hướng tới tầm nhìn quốc gia đến năm 2050, đem lại sự phát triển bền vững và từng bước nâng cao đời sống người dân.
TS Đoàn Duy Khương