Mái trường tín dụng giữa rừng sâu

Mái trường tín dụng giữa rừng sâu
2 giờ trướcBài gốc
Ảnh chụp và phục dựng lại từ ảnh tư liệu của Ban Ngân tín R-C32 khung cảnh một buổi sinh hoạt của Trường Trung cấp nghiệp vụ kinh tài Trung ương Cục miền Nam trong giai đoạn sau khi đã tiếp quản Viện Hành chính Quốc gia của chế độ cũ tại TP. Hồ Chí Minh
Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, yêu cầu chi viện khẩn cấp cho miền Nam nói chung, cung cấp tài chính – tiền tệ nói riêng để phục vụ chiến trường ngày càng lớn. Năm 1968, theo đề nghị của Trung ương Cục miền Nam, Trung ương Đảng đã chỉ đạo bổ sung cán bộ có nghiệp vụ tài chính – tiền tệ vào chiến trường. Theo đó, NHNN đã cử một đoàn cán bộ chi viện cho miền Nam với phiên hiệu đoàn B68.
Sau khi đi theo Đoàn 559 của Bộ Quốc phòng vào đến các địa phương chiến trường B (từ phía Nam sông Bến Hải, Quảng Trị trở vào), nhiều cán bộ ngành Ngân hàng đã được “thả” xuống, phối hợp với cán bộ tại chỗ của từng địa phương, hình thành Kho bạc, sinh hoạt tại Ban Kinh tài, do tỉnh ủy vùng giải phóng trực tiếp lãnh đạo và giao nhiệm vụ. Riêng số cán bộ về Trung ương Cục miền Nam được kết hợp với những cán bộ tại chỗ (tức B-34/153 cũ) thành lập Kho bạc R. Từ năm 1972, Kho bạc R chính thức đổi tên thành Ban Ngân tín R, phiên hiệu đơn vị C32 – trực thuộc Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam (D270/N2683).
C3.2 đón đoàn xe vận chuyển hàng và tiền từ Bắc vào
Cho vay “giữ dân” trên các vùng giải phóng
Theo tư liệu của ông Trần Quang Dũng, C phó C32 và các cán bộ trong Ban Liên lạc đoàn B68, Ban Ngân tín R, ngoài những trọng trách được giao như: tiếp nhận, vận chuyển, bảo quản, chế biến và cấp phát các loại tiền tệ cho các đơn vị trong chiến trường B2 theo lệnh của Trung ương Cục miền Nam, còn đảm nhiệm những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng khác là triển khai công tác tín dụng và đào tạo nghiệp vụ tài chính – ngân hàng tại các vùng giải phóng.
Từ năm 1969, tổ chức Kho bạc Miền được hình thành và tổ chức theo hệ thống dọc 4 cấp từ Miền đến Khu, tỉnh, huyện. Từ năm 1972 trở đi, Ban Ngân tín R thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: quản lý Kho bạc, cấp phát tiền ngân sách và triển khai một số nghiệp vụ ngân hàng như thanh toán chuyển khoản, cho vay phục vụ sản xuất. Bộ phận tín dụng được hình thành trong tổ chức của C32 với biên chế 10 cán bộ, chiến sĩ, có nhiệm vụ xây dựng quy chế cho vay để các địa phương tham khảo. Nguồn vốn cho vay chủ yếu là vốn ngân sách do Trung ương chi viện.
Theo các cán bộ từng công tác tại Ban Ngân tín C32 trong giai đoạn đầu, hoạt động cho vay chủ yếu phục vụ sản xuất tự túc và cải thiện đời sống cho các cơ quan, đơn vị trong chiến trường. Tuy nhiên, từ năm 1973 trở đi, khi các vùng giải phóng được mở rộng, Trung ương đã chỉ đạo Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam tập trung nguồn lực tài chính vừa để củng cố vùng giải phóng, vừa phục vụ nhiệm vụ “giành dân”, “giữ dân”. Theo đó, hoạt động cho vay được mở rộng mạnh mẽ hơn, lan tỏa tới cả những khu vực địch còn kiểm soát, bao gồm lực lượng kiều bào từ Campuchia trở về sinh sống, làm ăn dọc biên giới hai tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và một số địa bàn khác.
Ghi chép của Ban Ngân tín C32 cho thấy, trong giai đoạn 1972–1974, tổng số vốn đầu tư cho vay đạt khoảng 3.130 triệu đồng tiền Sài Gòn và 138 triệu tiền Riel. Từ năm 1974, thực hiện các Chỉ thị 06/CT/73, 09-CT/74 và 03-CT/75 của Trung ương Đảng về xây dựng vùng giải phóng và khu căn cứ trong tình huống mới, công tác tín dụng tiếp tục được mở rộng tới các tỉnh và các vùng mới giải phóng, với tổng nguồn vốn khoảng 2 triệu USD trong giai đoạn này.
Nhờ nguồn vốn tín dụng này, kinh tế vùng giải phóng và các căn cứ kháng chiến từng bước được mở rộng. Nhiều cơ sở công – nông – thương nghiệp như bông, vải, sợi; bách hóa, công nghệ phẩm; lương thực, thực phẩm được hình thành và phát triển. Đồng thời, hàng loạt cơ sở công nghiệp quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp như làm đường, xay xát lúa gạo, chế biến hoa màu, xưởng cưa, xưởng mộc, lò gạch, cơ khí, sửa chữa, lò rèn… cũng được xây dựng và đưa vào hoạt động.
Tại Tây Ninh, Bình Phước đã hình thành một số cơ sở quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp như lò đường, nhà máy xay lúa gạo, cơ sở chế biến hoa màu, nhà máy cao su. Ở một số nơi, các đội máy kéo được thành lập tại căn cứ chiến khu để phục vụ khai hoang, phục hóa đất nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ nông dân có thêm vốn khôi phục và mở rộng sản xuất, từng bước hình thành các vùng kinh tế mới. Sau Giải phóng, một số khu sản xuất tập trung như nông trường Bàu Lùng (Tây Ninh) hay các vùng ở Bình Phước đã trở thành những vùng kinh tế trù phú, đóng góp đáng kể cho ngân sách trong giai đoạn xây dựng đất nước.
Thanh niên ngân hàng đi chiến trường B
Dạy nghiệp vụ tín dụng ở chiến trường miền Nam
Song song với việc triển khai tín dụng và quản lý ngân quỹ, một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng khác của Ban Ngân tín C32 là đào tạo cán bộ kinh tài ngay tại chiến trường. Trong điều kiện lực lượng tại chỗ còn thiếu và yếu về chuyên môn, việc hình thành một hệ thống đào tạo bài bản được xem là nền tảng để duy trì và mở rộng hoạt động tài chính - ngân hàng ở vùng giải phóng.
Theo tư liệu của ông Phạm Văn Hài (Ba Hài), sau khi về Ban Ngân tín C32, ông được Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam giao nhiệm vụ thành lập bộ khung cho một trường nghiệp vụ. Ban đầu, lực lượng chỉ có 12 người, gồm phụ trách chung, giáo vụ, kế toán trưởng, nhân viên y tế cùng một số anh chị em làm nhiệm vụ bảo vệ, cấp dưỡng và tiếp phẩm.
Ông Phạm Văn Hài (chụp thời điểm 2016), cán bộ Ban Ngân tín R-C32 - người được Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam giao nhiệm vụ thành lập bộ khung hình thành Trường nghiệp vụ kinh tài giai đoạn 1969-1970
Đội ngũ này vừa lo xây dựng trường, vừa tiếp nhận học viên do các đơn vị gửi đến. Toàn bộ cán bộ, nhân viên nhà trường cùng học viên đều trực tiếp tham gia dựng lán trại, đào hầm hào tránh bom pháo và luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Hội trường kiêm lớp học là một căn hầm rộng do chính cán bộ, chiến sĩ dựng lên giữa rừng.
Tháng 1/1969, lớp sơ cấp đầu tiên được khai giảng với gần 30 học viên. Dù điều kiện còn rất thiếu thốn, chương trình đào tạo vẫn được tổ chức tương đối bài bản, tập trung vào nghiệp vụ kế toán – tài vụ, đồng thời truyền đạt những kiến thức cơ bản về tiền tệ, tín dụng và tổ chức hoạt động ngân hàng trong điều kiện chiến tranh. Toàn bộ giáo viên đều là cán bộ kiêm nhiệm, chủ yếu từ lực lượng B68 chi viện từ miền Bắc vào, mỗi người phụ trách một chuyên đề, vừa soạn bài vừa trực tiếp đứng lớp.
Điểm đặc biệt của các lớp học này là nội dung giảng dạy luôn gắn chặt với thực tiễn chiến trường. Các chuyên đề về tín dụng công nghiệp, tín dụng nông thôn, kế toán hay tiền tệ đều được thiết kế để học viên có thể áp dụng ngay tại đơn vị sau khi kết thúc khóa học. Chính cách đào tạo này đã giúp đội ngũ cán bộ kinh tài ở các khu, tỉnh từng bước chuyển từ làm việc theo kinh nghiệm sang làm việc có quy trình, có sổ sách và có nguyên tắc.
Sau lớp đầu tiên, cùng với việc tăng cường cán bộ từ miền Bắc, hoạt động đào tạo được mở rộng cả về quy mô và nội dung. Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam liên tục mở các lớp bồi dưỡng cho cán bộ các khu, tỉnh từ Khu V trở vào, mỗi lớp khoảng 40 học viên. Nội dung đào tạo không chỉ dừng ở kế toán, tài vụ mà còn được bổ sung các kiến thức về quản lý ngân quỹ, cấp phát ngân sách, thanh toán và tín dụng phục vụ sản xuất.
Đến năm 1973, hệ thống đào tạo được nâng lên thành Trường Trung cấp nghiệp vụ kinh tài Trung ương Cục. Chương trình đào tạo được tổ chức linh hoạt, chia thành hai khối nghiệp vụ và văn hóa, qua đó đã đào tạo hàng trăm cán bộ bổ sung cho các chiến trường trọng điểm như T2, T3, T6. Đây là bước phát triển quan trọng cho thấy, công tác đào tạo cán bộ kinh tài đã được đặt ngang tầm với yêu cầu mở rộng và củng cố vùng giải phóng.
Từ “mái trường nghiệp vụ dã chiến” giữa rừng sâu, một lực lượng lớn cán bộ kinh tài đã được hình thành ngay tại chiến trường miền Nam. Họ không chỉ đảm nhiệm công tác kế toán, tài vụ, tín dụng tại các khu, tỉnh, mà còn góp phần duy trì dòng chảy tài chính – tiền tệ trong vùng giải phóng, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho việc tiếp quản và vận hành hệ thống ngân hàng sau ngày đất nước thống nhất.
Các cán bộ ngân hàng trong Ban Liên lạc đoàn B68 trong một lần gặp mặt tại TP. Hồ Chí Minh
Thạch Bình
Nguồn TBNH : https://thoibaonganhang.vn/mai-truong-tin-dung-giua-rung-sau-181368.html