Tại hội thảo về ứng dụng công nghệ trong dự báo, cảnh báo thiên tai ngày 18/3, các chuyên gia nhận định thách thức lớn nhất hiện nay không phải thiếu công nghệ, mà là cách kết nối dữ liệu, con người và hệ thống quản lý để đưa cảnh báo đến đúng người, đúng thời điểm – kể cả khi mất điện, mất sóng.
Không thể hoàn toàn phụ thuộc AI
Ông Nguyễn Ngọc Huy, chuyên gia độc lập hợp tác với Đại học VinUni, cho rằng đang tồn tại “khoảng trống lớn” giữa sản phẩm dự báo và khả năng tiếp nhận, hành động của người dân.
Theo ông, nhiều bản tin hiện vẫn nặng tính kỹ thuật, chưa được chuyển hóa thành thông tin dễ hiểu. “Người dân cần biết có phải sơ tán hay không, nước ngập đến đâu, chứ không chỉ là cấp độ rủi ro”, ông nói.
Hình ảnh tang thương tại làng Nủ (Lào Cai) năm 2024 khi thiên tai ập xuống bất ngờ, người dân không kịp trở tay. Ảnh: Thạch Thảo.
Ông đề xuất xây dựng bản đồ ngập lụt 3D, đồng thời cập nhật các mô hình thủy lực lưu vực sông nhằm cung cấp thông tin trực quan, dễ hiểu hơn.
Ông Huy cũng lưu ý, các mô hình dự báo có thể cho kết quả khác nhau, vì vậy AI chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, không thể thay thế hoàn toàn chuyên gia trong quá trình ra quyết định.
Từ góc nhìn địa phương, ông Lê Anh Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Tuyên Quang, cho biết địa hình phức tạp cùng biến đổi khí hậu khiến thiên tai ngày càng khó lường.
Theo ông, hệ thống quan trắc hiện còn thưa, nhiều khu vực thiếu dữ liệu. Đặc biệt, khi xảy ra thiên tai lớn, tình trạng mất điện, mất kết nối khiến việc thu thập thông tin gần như bị gián đoạn.
“Cần có các giải pháp công nghệ vẫn hoạt động trong điều kiện bị cô lập, đồng thời tăng mật độ trạm đo mưa để nâng cao độ chính xác”, ông Dũng đề xuất.
Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng bản đồ ngập lụt chi tiết tại các khu dân cư và khu kinh tế trọng điểm nhằm giảm thiểu thiệt hại.
Dữ liệu là “chìa khóa” để AI phát huy hiệu quả
Giáo sư Bùi Minh Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, AI chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có dữ liệu đầu vào đầy đủ, chất lượng.
Hiện nhiều hệ thống đã khai thác dữ liệu quan trắc, địa hình, lượng mưa, cùng các nguồn mở như báo chí, mạng xã hội để xác định khu vực rủi ro. AI thậm chí có thể tự tạo dữ liệu từ thực tiễn nhằm nâng cao độ chính xác.
Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, mạng lưới quan trắc còn thưa, thiếu dữ liệu, trở thành “nút thắt” cản trở việc ứng dụng AI.
Một xu hướng được đề xuất là cá nhân hóa cảnh báo, gửi trực tiếp đến từng người dân theo vị trí cụ thể, thay vì chỉ dừng ở cấp chính quyền.
Ông Nguyễn Ngọc Huy phát biểu tại hội thảo. Ảnh: V.Đ
Đáng chú ý, công nghệ AI cho phép hệ thống vẫn duy trì hoạt động ngay cả khi mất kết nối internet – yếu tố đặc biệt quan trọng trong điều kiện thiên tai.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất, để nâng cao hiệu quả cảnh báo thiên tai cần xây dựng hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước giữ vai trò điều phối, nhà khoa học phát triển công nghệ, doanh nghiệp cung cấp giải pháp và người dân là trung tâm thụ hưởng.
Trong ngắn hạn, cần ưu tiên các giải pháp khả thi như kết nối dữ liệu sẵn có, tận dụng các nền tảng truyền thông và nhân rộng mô hình quan trắc hiệu quả.
Về lâu dài, trọng tâm là xây dựng hạ tầng dữ liệu đủ mạnh để AI phát huy vai trò, hướng tới mục tiêu không để cảnh báo thiên tai bị gián đoạn, ngay cả khi mất điện, mất sóng.
Vũ Điệp