Các cuộc tấn công trả đũa lẫn nhau giữa Mỹ, Israel và Iran khiến bất ổn lan rộng sang các quốc gia vùng Vịnh, gây ảnh hưởng trực tiếp tới các khu vực, từ châu Âu tới châu Á. Chỉ riêng trong ba ngày đầu của cuộc xung đột hiện nay, giá dầu đã tăng thêm khoảng 22%. Phân tích thị trường hiện tại cho thấy rủi ro hàng hải ở eo biển Hormuz sẽ tăng mạnh, khiến khoảng 30% lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển toàn cầu và 20% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) vận chuyển có nguy cơ bị gián đoạn nghiêm trọng.
Theo dự báo từ nhiều tổ chức thị trường, giá dầu thô có thể tăng vọt lên 100-110 USD/thùng và duy trì ở mức cao trong một đến hai tháng. Điều này sẽ làm tăng chi phí nguyên liệu thô năng lượng và hóa chất cho ngành sản xuất toàn cầu, làm giảm biên lợi nhuận của các doanh nghiệp. Các ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng cao như thép, hóa chất và xi-măng có thể phải đối mặt tình trạng tạm ngừng sản xuất trên diện rộng và ngay cả các doanh nghiệp lớn cũng có thể buộc phải cắt giảm công suất do áp lực chi phí kéo dài. Giá dầu cao kéo dài sẽ thúc đẩy đầu tư vào các giải pháp năng lượng thay thế, tạo ra những thay đổi cấu trúc trong các chuỗi giá trị công nghiệp liên quan.
Vùng Vịnh và Biển Đỏ, các hành lang thương mại quan trọng nối liền châu Âu và châu Á, có thể phải đối mặt với sự gián đoạn nghiêm trọng. An ninh bị đe dọa ở eo biển chiến lược Hormuz gây ảnh hưởng khả năng vận chuyển dầu ra khỏi khu vực vùng Vịnh, qua đó làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Giá nhiên liệu tăng sẽ tác động tới các chỉ số giá tiêu dùng và giá sản xuất cơ bản.
Khi giá dầu và khí đốt tăng, chi phí xăng, dầu diesel, điện và khí đốt sinh hoạt cũng tăng theo, trực tiếp đẩy chỉ số giá tiêu dùng lên cao. Đây đều là các yếu tố đầu vào thiết yếu đối với công nghiệp, nhà hàng, khách sạn và bán lẻ. Bên cạnh đó, chi phí bảo hiểm hàng hải tăng mạnh, có thể lên tới 50%, khiến chi phí vận tải tăng đáng kể.
Các ngành sản xuất phụ thuộc vào các tuyến đường thương mại Trung Đông sẽ phải đối mặt với cả lạm phát chi phí và chậm trễ giao hàng. Sẽ xuất hiện các điểm nghẽn hậu cần khi nhiều hãng phải thay đổi tuyến đường vận chuyển, hoặc hủy chuyến tàu và phải kéo dài thời gian giao hàng. Việc đóng cửa không phận tiềm tàng sẽ làm phức tạp thêm cho logistics quốc tế. Chu kỳ giao hàng sản xuất toàn cầu có thể kéo dài, các đơn đặt hàng xuất khẩu có thể bị hủy bỏ hoặc tranh chấp và các nhà cung cấp dịch vụ logistics xuyên biên giới có thể phải đối mặt với khó khăn tài chính đáng kể. Điều này khiến cả nguyên liệu thô, linh kiện công nghiệp và thực phẩm nhập khẩu đều trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn.
Nếu xung đột và bất ổn kéo dài sẽ khiến doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh tăng giá các mặt hàng, qua đó tác động tới kỳ vọng lạm phát. Khi người dân và doanh nghiệp cho rằng giá cả không chỉ tăng mà còn duy trì ở mức cao, hành vi kinh tế sẽ thay đổi, có thể kích hoạt vòng xoáy lạm phát tiền lương-giá cả.
Rủi ro lớn nhất hiện nay nằm ở khả năng cú sốc giá chuyển thành cú sốc nguồn cung. Để đối phó nguy cơ này, các nhà hoạch định chính sách châu Âu đã bắt đầu cân nhắc chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế.
Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Philip Lane cảnh báo, một cú sốc năng lượng kéo dài có thể gây ra các tác động thứ cấp, làm chậm tiến trình kiểm soát lạm phát.
Trong lúc các nỗ lực ngoại giao nhằm hối thúc các bên liên quan chấm dứt xung đột, nhiều quốc gia, khu vực đang phải lên các kịch bản để đối phó nguy cơ eo biển Hormuz bị phong tỏa trong thời gian dài hoặc hạ tầng xuất khẩu năng lượng trong khu vực bị phá hủy. Nếu kịch bản này xảy ra, thế giới có thể sẽ phải đối mặt với cú sốc nguồn cung định lượng nghiêm trọng, tác động sâu hơn tới lạm phát, tăng trưởng và mây đen sẽ bao phủ triển vọng kinh tế toàn cầu.
ANH THƯ