Mẹ mắc ung thư vú, con gái có bị không?

Mẹ mắc ung thư vú, con gái có bị không?
7 giờ trướcBài gốc
Nội dung
1. Khả năng di truyền của ung thư vú
2. Phụ nữ có nguy cơ cao nên chủ động khám sàng lọc ung thư vú
1. Khả năng di truyền của ung thư vú
Khả năng di truyền đóng một vai trò quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất gây ra ung thư vú. Thực tế, chỉ có một số ít các ca ung thư vú được xác định là do di truyền trực tiếp từ cha mẹ sang con cái thông qua các đột biến gene.
Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, có khoảng 5% đến 10% trường hợp ung thư vú được cho là do di truyền, nghĩa là chúng là kết quả trực tiếp từ những thay đổi gene (đột biến) được truyền từ cha mẹ.
Nguyên nhân phổ biến nhất gây ung thư vú di truyền là đột biến gene BRCA1 hoặc BRCA2.
Nguyên nhân phổ biến nhất gây ung thư vú di truyền là đột biến gene BRCA1 hoặc BRCA2. Trong các tế bào bình thường, những gene này giúp tạo ra các protein sửa chữa DNA bị hư hỏng. Các phiên bản đột biến của những gene này có thể dẫn đến sự phát triển bất thường của tế bào, từ đó dẫn đến ung thư.
Nếu một người thừa hưởng bản sao đột biến của một trong hai gene này từ cha mẹ, họ có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.
Về tiền sử gia đình, việc có người thân ruột thịt (mẹ, chị gái hoặc con gái) mắc ung thư vú làm tăng gần gấp đôi nguy cơ mắc bệnh của phụ nữ. Nếu có 2 người thân ruột thịt mắc bệnh, nguy cơ sẽ tăng lên khoảng 3 lần. Phụ nữ có cha hoặc anh trai từng mắc ung thư vú cũng có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.
2. Phụ nữ có nguy cơ cao nên chủ động khám sàng lọc ung thư vú
Việc chủ động tầm soát là biện pháp cần thiết để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả ung thư vú. Đối với phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ (do di truyền, tiền sử gia đình...) lộ trình khám sàng lọc cần được thực hiện một cách bài bản và chuyên sâu hơn.
TS.BS. Phạm Tuấn Anh Trưởng Khoa Điều trị A - BV K Trung ương
Khi có mang gene đột biến không có nghĩa là chắc chắn bị ung thư vú nhưng sẽ có nguy cơ cao mắc ung thư vú. Do đó đòi hỏi những người mang gene đột biến hoặc có những yếu tố di truyền phải đi khám sàng lọc sớm với tần suất theo như khuyến cáo của bác sĩ chuyên khoa để có thể phát hiện kịp thời, xử trí và điều trị triệt để được.
Các phương pháp sàng lọc ung thư vú phổ biến
Tùy vào độ tuổi và mức độ nguy cơ, bác sĩ sẽ chỉ định các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp chúng để có kết quả chính xác nhất:
Siêu âm vú: Đây là phương pháp phổ biến nhất, an toàn, không đau và hiệu quả đối với phụ nữ có mô vú dày (thường gặp ở người trẻ tuổi).
Chụp nhũ ảnh: Sử dụng tia X liều thấp để phát hiện các khối u nhỏ hoặc các vi vôi hóa mà tay không thể sờ thấy. Đây là tiêu chuẩn vàng cho phụ nữ trên 40 tuổi.
Chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú:Thường được chỉ định cho những người có nguy cơ cao (như có đột biến gen BRCA hoặc tiền sử gia đình mạnh) để bổ trợ cho chụp nhũ ảnh.
Tự khám vú tại nhà: Thực hiện mỗi tháng một lần sau khi sạch kinh 3 - 5 ngày để theo dõi các thay đổi bất thường như cục u, thay đổi da vùng ngực hoặc tiết dịch núm vú.
Phụ nữ có nguy cơ cao nên chủ động khám sàng lọc ung thư vú theo hướng dẫn của bác sĩ.
Đối với phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư vú cao (ví dụ có tiền sử gia đình mắc ung thư vú, đột biến gene di truyền…), Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo nên cân nhắc thực hiện các biện pháp như: Tư vấn di truyền và xét nghiệm nguy cơ ung thư vú (nếu chưa thực hiện); Thuốc làm giảm nguy cơ ung thư vú; Quan sát chặt chẽ để phát hiện các dấu hiệu sớm của ung thư vú...
Thu Phương
Nguồn SK&ĐS : https://suckhoedoisong.vn/me-mac-ung-thu-vu-con-gai-co-bi-khong-169260422105653062.htm