Mở rộng mạng lưới ghép tạng sang các bệnh viện tư nhân là một xu hướng tất yếu. Ảnh: BVĐK XA
Từ ca ghép thận đầu tiên được thực hiện năm 1992, lĩnh vực ghép tạng tại Việt Nam đã có những bước tiến dài cả về số lượng lẫn chất lượng chuyên môn. Theo các thống kê, đến nay Việt Nam đã thực hiện gần 10.000 ca ghép tạng, với trung bình hơn 1.000 ca mỗi năm trong giai đoạn 2022–2024. Hoạt động ghép tạng hiện được triển khai tại 31 cơ sở y tế, chủ yếu là các bệnh viện tuyến trung ương và một số bệnh viện lớn thuộc khu vực công lập. Với quy mô này, Việt Nam được đánh giá là quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng ghép tạng.
Không chỉ tăng về số ca, trình độ chuyên môn ghép tạng của Việt Nam cũng ghi nhận nhiều bứt phá. Từ ghép thận – loại hình phổ biến nhất, các cơ sở y tế trong nước đã mở rộng sang ghép gan, ghép tim, ghép phổi, ghép tụy, ghép ruột và ghép chi. Nhiều kỹ thuật khó như ghép gan cho trẻ nhỏ, ghép gan không cùng nhóm máu, ghép gan trong suy gan cấp tối cấp hay ghép đồng thời tim – phổi đã được thực hiện thành công, cho thấy năng lực làm chủ kỹ thuật ở mức cao của đội ngũ y bác sĩ Việt Nam.
Theo PGS.TS.BS. Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, trình độ ghép tạng của Việt Nam hiện nay không còn khoảng cách lớn so với nhiều trung tâm trong khu vực. Đội ngũ chuyên môn đã làm chủ được hầu hết các khâu quan trọng, từ phẫu thuật lấy – ghép, hồi sức sau mổ đến theo dõi, điều trị lâu dài sau ghép. Hiệu quả điều trị là minh chứng rõ nét, với tỷ lệ sống sau ghép thận đạt 90–95%, ghép gan khoảng 80–90% và ghép tim 85–90% sau một năm.
Tuy nhiên, phía sau những thành tựu ấy vẫn tồn tại nhiều “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển bền vững của ghép tạng. Theo PGS.TS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở kỹ thuật mà ở nguồn hiến tạng. Hơn 80% ca ghép tại Việt Nam vẫn dựa vào người hiến sống, chủ yếu là người thân trong gia đình, trong khi tỷ lệ hiến tạng từ người chết não mới chiếm khoảng 15–20%, thấp hơn nhiều so với các quốc gia có hệ thống hiến – ghép phát triển.
Bên cạnh đó, mạng lưới ghép tạng còn tập trung chủ yếu ở một số bệnh viện lớn tại Hà Nội và TPHCM. Dù cả nước có 31 cơ sở đủ điều kiện ghép tạng, nhưng năng lực thực tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh suy tạng giai đoạn cuối. Nhiều bệnh nhân phải chờ đợi kéo dài, di chuyển xa, thậm chí bỏ lỡ cơ hội ghép do không tiếp cận được nguồn tạng kịp thời.
Trong bối cảnh đó, việc mở rộng mạng lưới ghép tạng sang các bệnh viện tư nhân được giới chuyên môn nhìn nhận là một xu hướng tất yếu. Theo PGS.TS Đồng Văn Hệ, để ghép tạng phát triển bền vững, cần xây dựng một hệ thống hiến – ghép đủ mạnh với sự tham gia của toàn xã hội và tất cả các loại hình bệnh viện, trên nền tảng tuân thủ chặt chẽ khung pháp lý, đạo đức y học và cơ chế điều phối thống nhất.
Vừa rồi tại Hội nghị Quốc tế về hiến, ghép tạng lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội vừa được tổ chức, đại diện BVĐK Tâm Anh công bố, hệ thống bệnh viện này đã chuẩn bị nguồn lực, sẵn sàng triển khai ghép tạng từ năm 2026, góp phần giảm tải áp lực cho bệnh viện công lập và thêm cơ hội sống cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối.
Dự kiến, sau khi hoàn tất các bước pháp lý cuối cùng, đơn vị này bắt đầu triển khai ghép thận trong năm 2026, dưới sự điều phối của Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia.
Hệ thống BVĐK Tâm Anh cho biết, ghép tạng là một trong những chiến lược phát triển chuyên môn trọng điểm trong thời gian tới, khởi đầu bằng ghép thận sau đó mở rộng sang các kỹ thuật ghép phức tạp hơn như ghép gan, ghép tim - phổi…
“Hệ thống y tế tư nhân ngày càng phát triển với ưu thế về trang thiết bị, vật tư tiêu hao hỗ trợ tối ưu cho ngành ghép. Hơn nữa quy trình đơn giản, nhanh chóng, giảm tải các thủ tục rắc rối còn tồn tại ở nhiều viện công. Tâm Anh với thế mạnh là bệnh viện đa khoa có rất nhiều cơ sở tham gia vào mạng lưới ghép, tôi tin tưởng rằng chắc chắn sẽ thành công” - PGS.TS Đồng Văn Hệ đánh giá.
Đức Trân