Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hướng tới những mục tiêu phát triển đầy tham vọng, đặc biệt là khát vọng trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, việc tìm kiếm và khơi thông các nguồn lực tăng trưởng mới là yêu cầu cấp thiết.
Trong số các đối tác chiến lược, Liên bang Nga nổi lên như một địa bàn then chốt, không chỉ bởi mối quan hệ hữu nghị truyền thống mà còn bởi những dư địa hợp tác to lớn chưa được khai phá hết.
Việc mở thêm nguồn lực cho tăng trưởng từ thị trường Nga cần được nhìn nhận một cách toàn diện từ góc độ thương mại, đầu tư, công nghệ và an ninh năng lượng trong một không gian kinh tế rộng lớn hơn.
Nhận diện nhu cầu nội tại
Theo TS. Nguyễn Quỳnh Trang, giảng viên Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay vẫn đang dựa nhiều vào vốn, trong khi đóng góp từ năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn khiêm tốn.
Để đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số như mục tiêu Chính phủ đặt ra, Việt Nam buộc phải chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên đổi mới công nghệ, số hóa và phát triển xanh.
Tuy nhiên, độ mở của nền kinh tế Việt Nam hiện rất cao (đạt 180%), khiến quốc gia dễ tổn thương trước các biến động địa chính trị toàn cầu.
Điều này đặt ra yêu cầu phải đa dạng hóa đối tác thương mại để xây dựng năng lực tự chủ cho nền kinh tế, bà Trang nhấn mạnh lại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Liên bang Nga 2026 mới đây.
Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Liên bang Nga 2026 (VREF 2026)
Trong bức tranh đó, thị trường Nga và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) giữ một vị trí đặc biệt. PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ cũng tại diễn đàn cho biết, Nga hiện chiếm tới 90% tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và khối EAEU.
Dù kim ngạch thương mại song phương hiện mới ở mức khoảng 5 tỷ USD – một con số còn khá khiêm tốn so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu gần 900 tỷ USD của Việt Nam – nhưng Nga vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại khu vực này và ngược lại, Việt Nam là đối tác hàng đầu của Nga trong khối ASEAN.
Thêm nguồn lực cho tăng trưởng
Động lực quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt - Nga trong thập kỷ qua chính là Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EAEU. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ký kết hiệp định này vào năm 2015, mở ra lộ trình xóa bỏ tới 90% dòng thuế quan.
Sau gần 10 năm thực thi, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng trưởng mạnh mẽ, tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2015 – 2024 bất chấp những thách thức từ đại dịch Covid-19 và xung đột địa chính trị.
Ông Thắng cho biết thêm, cơ cấu kinh tế giữa Việt Nam và Nga mang tính bổ sung hoàn hảo thay vì cạnh tranh trực tiếp.
Trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Nga các mặt hàng thế mạnh như điện thoại, linh kiện máy tính, dệt may, giày dép và nông thủy sản. Ngược lại, Nga cung cấp cho Việt Nam những nguồn lực đầu vào thiết yếu cho sản xuất và an ninh năng lượng như xăng dầu, than đá, phân bón, kim loại và máy móc thiết bị.
Sự kết nối này không chỉ giúp Việt Nam đảm bảo chuỗi cung ứng nguyên liệu mà còn mở rộng thị trường cho hàng tiêu dùng chất lượng cao.
Bên cạnh thương mại, khoa học công nghệ là những "nguồn lực xanh" mà Việt Nam có thể tận dụng từ Nga để nâng cao năng lực sản xuất nội địa, bà Trang nhận định. Điều này xuất phát từ thực tế Nga sở hữu nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển, có khả năng hỗ trợ Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa sản xuất và nâng cao chỉ số TFP vốn còn thấp.
Về đầu tư, đầu tư hai chiều đã có những điểm sáng như liên doanh Vietsovpetro trong ngành dầu khí, dự án của TH True Milk tại Nga nhưng quy mô vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng thực tế.
Tính đến cuối năm 2025, Nga hiện có gần 200 dự án tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt gần 1 tỷ USD, đứng thứ 26/147 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Việt Nam có 16 dự án đầu tư sang Nga còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 1,6 tỷ USD, xếp thứ 4/81 quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam có đầu tư.
Thương mại Việt Nam - Nga còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới. Ảnh: Hoàng Anh
Mở không gian hợp tác
Cả hai chuyên gia tại diễn đàn đều cho rằng, một trong những triển vọng hợp tác quan trọng nhất trong giai đoạn mới chính là lĩnh vực năng lượng sạch và năng lượng tái tạo.
Nga có thế mạnh về công nghệ điện khí hóa lỏng (LNG) và điện hạt nhân (đặc biệt là các dự án quy mô nhỏ). Việc hợp tác với Nga trong các lĩnh vực này sẽ giúp Việt Nam thực hiện lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong khi vẫn đảm bảo đủ nguồn lực năng lượng cho phát triển công nghiệp.
Tuy nhiên, ông Thắng cho rằng, để thực sự mở thêm nguồn lực từ Nga, hai bên cần giải quyết các rào cản về logistics và thanh toán. Chi phí logistics hiện nay vẫn còn cao và gặp khó khăn do các lệnh cấm vận của phương Tây ảnh hưởng đến hệ thống vận tải và ngân hàng của Nga.
Ông đề xuất tính đến giải pháp cải thiện tuyến vận tải biển nối Vladivostok với các cảng Cái Mép, Lạch Huyện, phát triển tuyến đường sắt liên vận Á - Âu qua Trung Quốc, và đặc biệt là cơ chế thanh toán bằng đồng nội tệ hay thông qua hệ thống liên ngân hàng riêng để giảm thiểu rủi ro.
Mở rộng nguồn lực từ Nga không chỉ bó hẹp ở Nga mà còn là mở rộng sang các nước khác trong khối EAEU như Kazakhstan, Belarus, Armenia và Kyrgyzstan. Những bước tiến ban đầu trong thương mại với các quốc gia này đang cho thấy tốc độ tăng trưởng đầy hứa hẹn.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Liên bang Nga 2026 (VREF 2026) do Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN (VNU-UEB) chủ trì, phối hợp với Trường Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga và Hội Hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga (VIRUFA) tổ chức.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nhấn mạnh, trong bối cảnh thế giới đang biến động sâu sắc, hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga cần được đặt trong một cách tiếp cận mới, chuyển từ hợp tác truyền thống sang hợp tác dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và phát triển bền vững.
Theo Thứ trưởng, giáo dục và khoa học không chỉ là lĩnh vực hợp tác quan trọng mà còn là trụ cột chiến lược giúp hai quốc gia nâng cao năng lực nội sinh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu.
Đồng thời, ông cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường các cơ chế hợp tác thực chất, có khả năng triển khai, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách – nghiên cứu – thị trường để tạo ra giá trị dài hạn cho cả hai bên.
Kiều Mai