Bằng ánh sáng tuệ giác vô biên, tùy duyên tùy cảnh, tùy căn tánh đốn tiệm của chúng sanh mà Thế Tôn khéo dùng phương tiện lập giáo, mở ra muôn ngàn pháp môn, kết tụ thành Tam tạng giáo điển với vô lượng nghĩa lý thâm sâu. Tất cả đều hướng tới phát huy trí tuệ, vượt thoát sự trói buộc của phiền não khổ đau, đi đến Niết-bàn an lạc. Trong kho tàng giáo lý ấy, Tam tuệ học Văn - Tư - Tu được xem là phương pháp học Phật của những hành giả sơ cơ, giúp nhận định rõ ràng phương hướng tu tập để từng bước nhận lại trí tuệ và tiến tới giác ngộ giải thoát.
Văn là lắng nghe Chánh pháp, đọc tụng kinh sách, xem băng đĩa Phật giáo... để khai mở trí tuệ, đó là văn tuệ. Khi nghe Phật pháp, chúng ta phải có thái độ tìm cầu học hỏi, muốn thực hành theo. Nếu nghe để đàm luận phê phán, nghe để chứa chấp kiến thức rồi khoe khoang thì chưa phải văn. Người muốn học Phật, không luận xuất gia hay tại gia đều phải học giáo lý, vì chính giáo lý ấy là bước đầu để chúng ta hình thành nếp sống của người đệ tử Phật, tiến thẳng vào ngôi nhà Phật pháp.
Tuy nhiên, nếu học Phật mà chỉ nghe, không chịu suy nghĩ thì không thể phân biệt đúng sai để tìm ra chân lý. Bởi những gì chúng ta nghe, thấy, học hỏi chỉ là kiến thức vay mượn từ bên ngoài. Muốn tiêu dung chúng trở thành kiến thức của chính mình thì phải tư duy, suy xét để hiểu rõ những lời Phật dạy. Trong kinh Tăng chi bộ, quyển I chương 3, Đức Phật đã dạy người xứ Kalama như sau: “Này Kalama, chớ vội tin vì nghe truyền thuyết, chớ vội tin vì theo truyền thống, chớ vội tin vì được kinh điển truyền tụng, chớ vội tin vì lý luận siêu hình, chớ vội tin vì đúng theo một lập trường, chớ vội tin vì phù hợp với định kiến, chớ vội tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền và chớ vội tin vì vị Sa-môn nói ra những lời ấy là bậc đạo sư của chính mình. Nhưng này Kalama, khi nào các ông suy nghĩ tự mình biết rõ điều ấy là đúng, điều ấy đưa đến an lạc hãy tin theo”.
Đạo Phật không chấp nhận sự rập khuôn, tiếp thu kiến thức như con sáo biết nói dưới sự chỉ dạy của người chủ nuôi nó. Sự học hỏi trong đạo Phật đòi hỏi hành giả phải tư duy, dùng trí gạn lọc những kiến thức mà mình đã học, đọc xem có đúng hay không, có nên thực tập theo hay không. Tư duy độc lập, tiếp thu sáng tạo, từ đó trí tuệ ngày càng tăng trưởng. Đây là tư tuệ. Thế nhưng, không phải mọi tư duy đều làm tăng trưởng trí tuệ. Chỉ có chánh tư duy mới giúp tâm ta thanh tịnh sáng suốt. Tà tư duy khiến tâm ô nhiễm, mờ mịt. Cho nên người học Phật phải tránh những tư duy lệch lạc, tư duy về những điều không phải Chánh pháp, mà phải thường xuyên tư duy về những lời dạy chân chánh của Đức Phật.
Sau khi lắng nghe, tư duy về những lời Phật dạy, chúng ta áp dụng vào cuộc sống để chuyển hóa phiền não khổ đau, để chân lý ngày càng sáng tỏ, đó là tu tuệ. Nếu chỉ nghe nhiều, suy luận phân biệt nhiều mà không thực hành theo thì cũng không có ích lợi gì. Thí như khi nghe nói về một loại trà ngon, biết cách pha trà như thế nào, nhưng nếu chưa từng tự pha trà, chưa uống qua lần nào thì không thưởng thức được hương vị của trà. Như trong kinh Dhammapada (Pháp cú – kệ 19-20), Đức Phật dạy: “Dầu thông suốt Kinh Luật mà không hành trì, cũng chỉ như kẻ mục đồng đếm bò cho kẻ khác. Người ấy không hưởng được hương vị giải thoát. Trái lại dù thuộc ít Kinh Luật nhưng cố gắng hành trì, từ bỏ tham, sân, si; hiểu biết chân chính, tâm tự tại, không vọng chấp. Người ấy ắt hưởng được hương vị giải thoát”.
Để Tam tuệ học Văn - Tư - Tu có thể phát huy tối đa hiệu quả và trí tuệ được chân chính phát khởi, hành giả cần phải gầy dựng công phu trên nền tảng Giới - Định - Tuệ. Nhờ sự chế ngự của giới mà chúng ta thúc liễm thân tâm, từ đó phát sanh các thiện pháp và thể hiện ra bên ngoài bằng các oai nghi đi đứng nằm ngồi. Giới trong sạch thì tâm không phiền não tán loạn. Một người hành trì giới nghiêm cẩn thì lời nói, hành động, tư tưởng đều chân chánh, nội tâm được an định. Một khi tâm an thì trí tuệ phát sanh, thấy rõ nhân sinh và vũ trụ đúng như thật; không xem xét sự vật bằng cảm nhận hay suy lường mà nhìn sự vật hiện tượng bằng thể nghiệm thiền tập, đi vào chánh định, chánh kiến.
Chúng ta đang đi trên con đường tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý, bị vô lượng vọng tưởng điên đảo bủa vây. Có sự đình chỉ vọng tưởng mới thực sự là giới. Không chạy theo vọng tưởng là an trú trong chánh định. Thân tâm nhuần nhuyễn trong giới thì định càng sâu, mà chiều sâu của định lực là chiều rộng của trí tuệ. Tuệ có được từ sự huân tu giới, định mới thấu suốt chân tướng của vạn pháp, vượt thoát luân hồi trong ba cõi, thẳng tiến đến đạo Vô thượng Bồ-đề. Như vậy Tam tuệ học Văn - Tư - Tu chính là con đường cụ thể phát huy trí tuệ.
Tam tuệ học Văn - Tư - Tu và Tam vô lậu học Giới - Định - Tuệ không phải hai con đường riêng biệt, mà là một dòng chảy bất khả phân, bổ trợ và hoàn thiện cho nhau. Hành giả y cứ trên Văn - Tư - Tu mà tu tập, thực hành ba môn Giới - Định - Tuệ cho trọn vẹn mới thoát khỏi xiềng xích của trần lao sanh tử, an nhiên tiến bước trên đạo lộ giải thoát mà Đức Thế Tôn đã chỉ bày.
An Lộc/Báo Giác Ngộ