Môn Lịch sử trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: 'Lựa chọn vàng' của thí sinh

Môn Lịch sử trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: 'Lựa chọn vàng' của thí sinh
một giờ trướcBài gốc
Cô Nguyễn Thị Nhài - giáo viên Trường Tiểu học, THCS và THPT Hồng Đức (Hưng Yên) trong giờ Lịch sử. Ảnh: NTCC
Không chỉ là “lựa chọn an toàn”, việc chọn môn Lịch sử của học sinh dần gắn chặt hơn với năng lực cá nhân, định hướng nghề nghiệp rõ ràng.
Vì sao môn Lịch sử “lên ngôi”?
Theo thầy Huỳnh Lin Co Cin - giáo viên Trường THPT Tháp Mười (Đồng Tháp), việc Lịch sử trở thành môn thi tự chọn có số lượng thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT cao nhất năm nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân.
Trước hết, Lịch sử là môn học bắt buộc trong chương trình THPT và xuất hiện trong nhiều tổ hợp xét tuyển đại học, tạo lợi thế cho học sinh khi lựa chọn ngành nghề và phương thức xét tuyển.
Một nguyên nhân khác là tâm lý muốn “dễ đỗ tốt nghiệp” của nhiều học sinh, bởi đây được xem là môn không quá khó; đồng thời phù hợp với những em xét tuyển vào trường công an, quân đội để tăng khả năng cạnh tranh điểm số.
“Với phương án thi “2+2”, Lịch sử đang trở thành “lựa chọn vàng” của nhiều học sinh muốn bảo đảm an toàn và nâng cao cơ hội xét tuyển”, thầy Huỳnh Lin Co Cin chia sẻ.
Lý giải việc Lịch sử là môn tự chọn có số thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT 2026 cao nhất, cô Hà Thị Minh Trang - giáo viên Trường THPT Ban Mai (Hà Nội) đưa ra 4 lý do.
Trước hết, chương trình, cấu trúc đề thi những năm gần đây thay đổi rõ rệt theo hướng giảm học thuộc lòng, tăng cường đánh giá khả năng hiểu, phân tích, liên hệ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn khiến học sinh cảm thấy môn Lịch sử “dễ tiếp cận” hơn so với trước đây.
Thứ hai, Lịch sử tuy là môn thi tự chọn nhưng lại là môn học bắt buộc trong chương trình THPT do đó tất cả học sinh đều có điều kiện, cơ hội để lựa chọn thi môn này.
Thứ ba, nhiều ngành nghề như marketing, truyền thông, luật, du lịch, ngay cả các khối ngành kinh tế cũng đã đưa Lịch sử vào tổ hợp xét tuyển (khối C00, D14, D15...). Đồng thời, học sinh có xu hướng lựa chọn tổ hợp dựa trên năng lực cá nhân, định hướng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, thay vì chạy theo “môn hot” như trước.
Nguyên nhân thứ tư xuất phát từ xu hướng “tìm về nguồn cội” trong xã hội số. Giữa kỷ nguyên số bùng nổ thông tin, giới trẻ có xu hướng muốn định vị bản thân thông qua các giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc. Các kênh nội dung về sử học trên TikTok, YouTube được đầu tư bài bản đã góp phần “truyền lửa”, giúp Lịch sử không còn là môn học “khô, khó, khổ”.
Vài năm gần đây, xu hướng lựa chọn của học sinh có sự dịch chuyển rõ rệt sang khối khoa học xã hội và những ngành nghề thuộc lĩnh vực dịch vụ, sáng tạo, truyền thông, quản trị, luật, giáo dục, du lịch, tâm lý học. Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy chọn nghề, các em bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới năng lực cá nhân, sở thích, kỹ năng giao tiếp, tư duy xã hội, khả năng thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh.
Ngành nghề đòi hỏi khả năng sáng tạo, phân tích xã hội, giao tiếp, quản trị con người hay xử lý tình huống thực tiễn đang được đánh giá có nhiều dư địa phát triển trong tương lai, cô Hà Thị Minh Trang nhận định.
Ảnh minh họa INT.
Chuyển từ ghi nhớ sang hiểu bản chất
Số lượng học sinh đăng ký tăng cao đồng nghĩa với áp lực và trách nhiệm của giáo viên cũng lớn hơn. Với cô Nguyễn Thị Nhài - giáo viên Trường Tiểu học, THCS và THPT Hồng Đức (Hưng Yên), điều quan trọng nhất không phải chỉ giúp học sinh đạt điểm cao, mà còn giúp các em học đúng bản chất của môn Lịch sử.
Ngay từ đầu năm học, Trường Tiểu học, THCS và THPT Hồng Đức đã xây dựng kế hoạch ôn tập khoa học, phân hóa đối tượng học sinh để có phương pháp phù hợp. Tổ chuyên môn thường xuyên họp, xây dựng hệ thống chuyên đề trọng tâm, bám sát cấu trúc đề minh họa của Bộ GD&ĐT.
Giáo viên cũng tăng cường xây dựng ngân hàng câu hỏi theo hướng phát triển năng lực, tránh tình trạng học tủ, học vẹt.
Trong các giờ ôn tập, thay vì yêu cầu học sinh ghi nhớ rời rạc từng mốc thời gian, cô Nguyễn Thị Nhài hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức theo chủ đề, theo tiến trình lịch sử hoặc theo sơ đồ tư duy để hiểu bản chất vấn đề.
Tôi luôn khuyến khích học sinh đặt câu hỏi “vì sao”, “ý nghĩa là gì”, “bài học lịch sử nào có thể vận dụng cho hiện tại”… bởi chỉ khi hiểu sâu, các em mới có thể làm bài tốt và ghi nhớ lâu dài.
Hiện nay, tôi đang ứng dụng công nghệ thông tin vào ôn thi rất hiệu quả: xây dựng bài giảng điện tử, video ngắn, quizizz trực tuyến, lớp học online, nhóm trao đổi học tập… giúp học sinh chủ động hơn trong việc tự học. Không khí ôn tập vì thế cũng bớt căng thẳng hơn trước.
Điều khiến tôi xúc động nhất trong quá trình ôn thi chính là sự thay đổi của học sinh. Có những em ban đầu rất sợ môn Sử, nhưng sau một thời gian được hướng dẫn phương pháp học phù hợp, các em dần yêu thích môn học này. Nhiều em say mê tìm hiểu lịch sử dân tộc, chủ động đọc thêm tài liệu, đặt ra những câu hỏi rất sâu sắc về các sự kiện lịch sử. Đó là hạnh phúc lớn nhất của người giáo viên, cô Nguyễn Thị Nhài chia sẻ.
Để đáp ứng việc số lượng thí sinh đăng ký môn Lịch sử tăng cao, thầy Huỳnh Lin Co Cin cho biết, nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch ôn tập từ sớm nhằm vừa bảo đảm chất lượng kỳ thi, vừa giúp học sinh phát triển tư duy và năng lực vận dụng kiến thức thay vì học thuộc lòng.
Học sinh được tổ chức lựa chọn tổ hợp môn ngay từ sớm, muộn nhất sau khi kết thúc lớp 11 thông qua phiếu khảo sát, qua đó giúp định hướng kế hoạch ôn tập phù hợp theo quy định của Bộ GD&ĐT với thời lượng 2 tiết ôn tập mỗi tuần.
Tổ bộ môn thường xuyên trao đổi, đánh giá tình hình học tập của học sinh trong các cuộc họp chuyên môn để kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm và nguồn tài liệu ôn tập hiệu quả.
Hoạt động định hướng nghề nghiệp cũng được triển khai thường xuyên giúp học sinh hiểu rõ hơn về ngành nghề, định hướng lựa chọn môn thi phù hợp. Với giáo viên, việc chuẩn bị nguồn tài liệu phục vụ chương trình mới được chú trọng, đồng thời hạn chế cách dạy học máy móc theo lối cũ.
Thầy cô đẩy mạnh phương pháp “sơ đồ hóa” trong giảng dạy lý thuyết và chữa bài tập, giúp học sinh dễ hệ thống kiến thức, hiểu bản chất, hạn chế tình trạng ghi nhớ mang tính “kinh viện”.
Tại Trường THPT Ban Mai (Hà Nội), tổ chuyên môn môn Lịch sử đã chủ động xây dựng kế hoạch ôn tập từ sớm theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình GDPT 2018.
Nhà trường tổ chức phân nhóm học sinh theo năng lực để có lộ trình hỗ trợ phù hợp, đồng thời xây dựng hệ thống chuyên đề trọng tâm bám sát cấu trúc đề minh họa của Bộ GD&ĐT.
Cô Hà Thị Minh Trang chia sẻ, trong quá trình ôn tập, giáo viên chú trọng hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy, trục thời gian, bảng so sánh sự kiện, giúp các em hiểu bản chất thay vì ghi nhớ máy móc. Các tiết học tăng cường hoạt động thảo luận, phân tích tư liệu, hình ảnh, video lịch sử, liên hệ thực tiễn nhằm phát triển khả năng tư duy, phản biện, vận dụng kiến thức.
Nhà trường cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong ôn tập như xây dựng ngân hàng câu hỏi trực tuyến, giao bài luyện tập theo từng mức độ và tổ chức thi thử định kỳ để học sinh làm quen áp lực phòng thi. Giáo viên thường xuyên theo dõi kết quả học tập, chữa lỗi sai phổ biến, hỗ trợ tâm lý giúp học sinh tự tin trong giai đoạn nước rút.
Nhà trường không đặt nặng việc học thuộc lòng mà tập trung giúp học sinh hiểu logic lịch sử, biết phân tích vấn đề và hình thành khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống.
Theo cô Hà Thị Minh Trang, các khối thi có sự hiện diện của môn Lịch sử hay các tổ hợp khoa học xã hội tiếp tục gia tăng sức hút. Đây không còn là lựa chọn mang tính “an toàn”, mà đang trở thành lựa chọn có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, phù hợp với nhu cầu nhân lực.
Xu hướng này cũng cho thấy học sinh tự tin hơn trong lựa chọn con đường phù hợp với bản thân thay vì chạy theo áp lực số đông hay định kiến truyền thống về ngành nghề.
Hiếu Nguyễn
Nguồn GD&TĐ : https://giaoducthoidai.vn/mon-lich-su-trong-ky-thi-tot-nghiep-thpt-2026-lua-chon-vang-cua-thi-sinh-post778569.html